Lịch sử Phật GiáoThiền TôngTổ Sư

Tam Tổ Trúc Lâm

✍️ Mục lục: Tam Tổ Trúc Lâm

Tam Tổ Trúc Lâm – Giảng Giải (H.T Thích Thanh Từ)

⭐️TỔ THỨ HAI PHÁI TRÚC LÂM
THIỀN SƯ PHÁP LOA
(1284 – 1330)

DỊCH
Sư tên thật là Đồng Kiên Cương, sanh năm Thiệu Bảo thứ sáu (1284) ngày mùng bảy tháng năm, quê làng Cửu La, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Cha là Đồng Thuần Mậu, mẹ là Vũ Từ Cứu. Trước khi sanh Sư, thân mẫu nằm mộng thấy có người trao cho thanh thần kiếm, bà thích lắm nhận lấy. Từ đó, bà biết có thai. Vì trước kia bà sanh liền tám người con gái nên chán ngán, phen này bà cố tình uống thuốc phá thai, nhưng đều vô hiệu. Đến khi sanh ra Sư, bà mừng lắm, đặt tên là Kiên Cương. Sư thiên tư dĩnh ngộ miệng không nói lời ác, ăn không thích thịt cá.
Niên hiệu Hưng Long thứ hai (1304), Điều Ngự (Nhân Tông) dạo đi các nơi, phá dâm từ (miếu thờ thần không chánh đáng) và ban pháp dược, đến mạn sông Nam Sách.
Sư đến lễ bái xin xuất gia, năm này Sư được hai mươi mốt tuổi. Điều Ngự trông thấy bằng lòng nói: “Kẻ này có đạo nhãn, sau ắt làm pháp khí, vui vẻ tự đến đây.” Ngài bèn cho hiệu là Thiện Lai, dẫn về liêu Kỳ Lân ở Linh Sơn cạo tóc và thọ gới Sa-di. Ngài dạy đến tham vấn với Hòa thượng Tánh Giác ở Quỳnh Quán. Ở đây, Sư tìm đủ cách thưa hỏi mà không được khai ngộ. Sư tự đọc bộ kinh Hải Nhãn (có lẽ kinh Lăng Nghiêm) đến bảy chỗ hỏi tâm và đoạn dụ khách trần ở sau, xem đi xem lại nhiều lần, bỗng nhiên Sư có chỗ vào. Sư từ tạ Hòa thượng Tánh Giác, trở về tham yết với Điều Ngự.
Gặp lúc Điều Ngự thượng đường, Sư ra thưa hỏi liền được tỉnh. Điều Ngự nhận biết bèn cho Sư theo hầu hạ Ngài. Một hôm, Sư trình cả ba bài tụng, bị Điều Ngự chê cả.
Sư thưa thỉnh mấy phen, Điều Ngự dạy phải tự tham. Sư vào phòng đầu óc nặng trĩu, thức đến quá nửa đêm, trông thấy bông đèn tàn rụng xuống. Sư chợt đại ngộ. Sư đem chỗ ngộ trình lên Điều Ngự. Ngài thầm nhận ấn khả. Từ đây, Sư thệ tu theo mười hai hạnh Đầu-đà (khổ hạnh).
Đến niên hiệu Hưng Long thứ mười ba (1305), Điều Ngự đem Sư lên liêu Kỳ Lân cho thọ giới Tỳ-kheo và giới Bồ-tát. Thấy chỗ tham học của Sư đã thành đạt, Điều Ngự cho hiệu là Pháp Loa.

Năm Hưng Long thứ mười lăm, Sư được hai mươi bốn tuổi, Điều Ngự trụ ở am Thiên Bảo Quan có bảy tám người thị giả mà Sư là đứng đầu. Điều Ngự vì Sư giảng Đại Huệ Ngữ Lục. Đến tháng năm, Điều Ngự lên ở am trên đảnh Ngọa Vân Phong. Ngày rằm làm lễ Bố-tát (sám hối tụng giới) xong, Điều Ngự đuổi mọi người xuống, lấy y bát và viết tâm kệ trao cho Sư dạy khéo gìn giữ.
Năm Hưng Long thứ mười sáu (1308) vào ngày mùng một tháng giêng, Sư vâng lệnh Điều Ngự làm lễ nối pháp trụ trì tại nhà Cam Lồ chùa Siêu Loại. Khai lễ có vua Anh Tông và đình thần đến dự. Điều Ngự lên đàn thuyết pháp rồi nhường chỗ cho Sư giảng đạo. Lễ xong, Điều Ngự đặt Sư kế thế trụ trì chùa Siêu Loại và làm chủ sơn môn Yên Tử, là đời thứ hai của phái Trúc Lâm. Điều Ngự còn trao cho Sư hơn hai trăm bộ kinh sử và bảo Anh Tông sung cúng vào chùa cả trăm khoảnh ruộng.
Tháng mười một năm ấy (1308), Điều Ngự tịch, Sư phụng mạng cung nghinh xálợi về kinh đô. Trở về núi, Sư soạn lại những bài tụng của Điều Ngự lúc ở Thạch Thất làm thành quyển Thạch Thất Mị Ngữ.
Năm Hưng Long thứ mười chín (1311), Sư phụng chiếu tiếp tục khắc bản Đại Tạng Kinh. Sư giao Bảo Sát làm chủ việc này. Tháng tư, Sư giảng Truyền Đăng Lục tại chùa Siêu Loại. Sau đó Huyền Quang trình kiến giải, Sư đều chấp nhận.
Năm Hưng Long thứ hai mươi mốt (1313) vào tháng chín, Sư phụng chiếu đến chùa Vĩnh Nghiêm ở Lượng Giang định chức cho tăng đồ. Chúng tăng từ đây mới có sổ bộ, chính Sư là người cầm sổ bộ ấy. Lúc đó, Sư độ hơn một ngàn vị tăng. Về sau cứ ba năm một lần độ tăng như thế.
Năm Đại Khánh thứ tư (1317) đời Trần Minh Tông, vào tháng hai, Sư bệnh nặng.
Sư đem y của Điều Ngự và viết bài tâm kệ trao cho Huyền Quang, pháp khí và gậy trao cho Cảnh Ngung, phất tử trao cho Cảnh Huy, gậy tre trao cho Huệ Quán, pháp thơ và pháp cụ trao cho Huệ Nhiên, linh vàng trao cho Hải Ấn, sử vàng trao cho Huệ Chúc. Sau ít hôm, bệnh Sư được lành.
Những hàng Thái hậu, Công chúa, Vương công, quí khanh đều thỉnh Sư truyền giới xuất gia hoặc giới Bồ-tát, cho đến vua Trần Anh Tông cũng xem như đệ tử. Họ đua nhau cúng đất, vàng, tiền để Sư lập chùa, đúc tượng Phật, in kinh quá nhiều, đến nỗi Sư phải tự xin giảm dần những số quyên cúng, thuyền của vua cấp cho Sư tiện việc đi lại và về kinh đô, Sư cũng từ chối không nhận.
Năm đầu Khai Hựu (1329), đời Trần Hiến Tông, Sư mở thêm cảnh Côn Sơn và Thanh Mai Sơn, làm thành danh lam thắng cảnh. Sư có làm bài thơ đề là Luyến Thanh Sơn:

Âm: Sơ sấu cùng thu thủy
Sàm nham lạc chiếu trung
Ngang đầu khán bất tận
Lai lộ hựu trùng trùng.
Dịch: Thưa gầy làn nước vút,
Chót vót ánh soi trong.
Ngẩng đầu coi chẳng hết,
Đường tới lại trùng trùng.
Trần Tuấn Khải

Gần mãn đời Sư, kiểm những công tác Phật sự: đúc tượng Phật kể cả lớn và nhỏ có hơn một ngàn ba trăm (1300) vị; tạo đại già-lam được hai ngôi; xây tháp được năm ngọn; lập tăng đường hơn hai trăm (200) sở; độ tăng và ni hơn một muôn năm ngàn (15.000) người; in được một bộ Đại Tạng Kinh; đệ tử đắc pháp hơn ba ngàn (3.000) người; thành Đại Pháp sư có sáu vị.
Năm Khai Hựu thứ hai (1330) ngày mùng năm tháng hai, Sư phát bệnh, trong hội giảng kinh Hoa Nghiêm tại An Lạc tàng viện. Đến ngày mười một thì bệnh rất nặng. Ban đêm Huyền Quang đứng hầu, thấy Sư ngủ mà nói ra tiếng: Hồng! Hồng!
Huyền Quang liền thưa:- Tôn giả nói mớ chăng?
Sư đáp:- Ngủ thì nói mớ, chẳng ngủ thì chẳng nói mớ.
Huyền Quang:- Đâu thể ngủ với thức là một.
Sư bảo:- Ngủ với thức là một.
Huyền Quang:- Đâu thể bệnh cùng chẳng bệnh là một?
Sư bảo:- Bệnh cũng chẳng có can gì y, chẳng bệnh cũng chẳng can gì y.
Huyền Quang:- Tại sao lại có tiếng nói ra ngoài?
Sư bảo:- Nghe tiếng gió thổi cây thì thế nào?
Huyền Quang:- Tiếng gió thổi cây, người nghe chẳng lầm, trong khi ngủ mà nói mớ thì dễ lầm người.
Sư bảo:- Người ngu cũng vẫn lầm tiếng gió thổi cây.
Huyền Quang:- Chỉ một bệnh này đến chết cũng chẳng mạnh.
Sư bèn đạp. Huyền Quang lui ra.
Từ đây bệnh lại giảm xuống. Đến ngày mười ba, Sư trở về viện Quỳnh Lâm nơi phương trượng cũ mà nằm. Đệ tử các nơi dồn về thưa hỏi xin kệ. Sư vẫn đối đáp và tùy người cho kệ không biết mệt mỏi.
Đến ngày mùng một tháng ba, Thượng hoàng Trần Minh Tông đích thân đến thăm bệnh và gọi Thái y đến trị cho Sư.
Đến tối mùng ba bệnh Sư trở lại nặng.
Huyền Quang thưa:- Xưa nay đến chỗ ấy, buông đi là tốt hay nắm lại là tốt?
Sư bảo:- Thảy đều không can hệ.
Huyền Quang:- Khi thảy đều không can hệ thì thế nào?
Sư bảo:- Tùy xứ tát-bà-ha.
Đệ tử đồng đến thỉnh:- Người xưa lúc sắp tịch đều có để kệ dạy đệ tử sao riêng Thầy không có?
Sư quở trách họ. Giây lâu bèn ngồi dậy bảo đem giấy viết lại. Sư viết một bài kệ:

Âm: Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn,
Tứ thập dư niên mộng huyễn gian.
Trân trọng chư nhân hưu tá vấn,
Na biên phong nguyệt cánh man khoan.
Dịch: Muôn duyên cắt đứt, một thân nhàn,
Hơn bốn mươi năm giấc mộng tràng.
Nhắn bảo mọi người thôi chớ hỏi,
Bên kia trăng gió rộng thênh thang.

Viết xong, Sư ném bút, an nhiên thị tịch, thọ bốn mươi bảy tuổi. Đệ tử theo lời phó chúc của Sư, đem nhục thể lên nhập tháp tại Thanh Mai Sơn. Đến ngày mười một tháng ba, Thái thượng hoàng ngự bút ban hiệu Sư là TỊNH TRÍ TÔN GIẢ, tháp tên VIÊN THÔNG, tặng mười lượng vàng để xây tháp và đề một bài thi vãn:

Âm: Thùy thủ trần hoàn dĩ liễu duyên,
Giác Hoàng kim lũ đắc nhân truyền.
Thanh Sơn mạn thảo quan tàng lý,
Bích thọ thâm sương xác thuế thiền.
Dạ yểm giảng đường kim cổ nguyệt,
Hiểu mê trượng thất hữu vô yên.
Tương đầu châm giới ta phi tích,
Trác tựu ai chương thế lệ huyền.
Dịch: Đã hết duyên trần thõng tay đi,
Giác Hoàng kim tuyến được truyền y.
Thanh Sơn cỏ mọc che phần mộ,
Cây biếc trong sương để xác ve.
Đêm phủ giảng đường trăng kim cổ,
Ngày ngày trượng thất khói mờ che.
Thân mến biết bao, ôi! Luyến tiếc,
Nhớ công giáo hóa lệ đầy mi.

Những tác phẩm của Sư còn lưu truyền lại có:
– Đoạn sách lục.
– Tham thiền chỉ yếu. (Thiền đạo yếu học?)
– Kim Cương đạo tràng đà-la-ni kinh.
– Tán Pháp Hoa kinh khoa số.
– Bát-nhã tâm kinh khoa.
– và một bài kệ thị tịch…

GIẢNG:
Sư tên thật là Đồng Kiên Cương, sanh năm Thiệu Bảo thứ sáu (1284) ngày mùng bảy tháng năm, quê làng Cửu La, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Cha là Đồng Thuần Mậu, mẹ là Vũ Từ Cứu. Trước khi sanh Sư, thân mẫu nằm mộng thấy có người trao cho thanh thần kiếm, bà thích lắm nhận lấy. Từ đó, bà biết có thai. Vì trước kia bà sanh liền tám người con gái nên chán ngán, phen này bà cố tình uống thuốc phá thai, nhưng đều vô hiệu. Đến khi sanh ra Sư, bà mừng lắm, đặt tên là Kiên Cương. Sư thiên tư dĩnh ngộ, miệng không nói lời ác, ăn không thích thịt cá.
Qua đoạn tiểu sử này, chúng ta thấy ngài Pháp Loa đã có chủng tử lành nhiều đời, cho nên khi sanh ra có những đặc điểm khác hơn người thường, nhất là lúc còn bé không nói lời ác, không ăn thịt cá, tức là chay lạt.
Niên hiệu Hưng Long thứ mười hai (1304), Điều Ngự (Nhân Tông) dạo đi các nơi, phá dâm từ (miếu thờ thần không chánh đáng) và ban pháp dược, đến mạn sông Nam Sách. Sư đến lễ bái xin xuất gia, năm này Sư được hai mươi mốt tuổi. Điều Ngự trông thấy bằng lòng nói: “Kẻ này có đạo nhãn, sau ắt làm pháp khí, vui vẻ tự đến đây.” Ngài bèn cho hiệu là Thiện Lai, dẫn về liêu Kỳ Lân ở Linh Sơn cạo tóc và thọ giới Sa-di.
Điều Ngự cho hiệu là Thiện Lai giống như ngày xưa, khi vị nào có chủng tử lành đến xin Phật xuất gia, Phật liền gọi “Thiện lai Tỳ-kheo” tức thì râu tóc rụng hết. Còn ở đây Điều Ngự dẫn Thiện Lai về liêu cạo tóc và cho thọ giới Sa-di.
Ngài dạy đến tham vấn với Hòa thượng Tánh Giác ở Quỳnh Quán. Ở đây, Sư tìm đủ cách thưa hỏi mà không được khai ngộ. Sư tự đọc bộ kinh Hải Nhãn (có lẽ kinh Lăng Nghiêm) đến bảy chỗ hỏi tâm và đoạn dụ khách trần ở sau, xem đi xem lại nhiều lần, bỗng nhiên Sư có chỗ vào. Sư từ tạ Hòa thượng Tánh Giác, trở về tham yết với Điều Ngự.
Kinh Hải Nhãn nằm trong Đại tạng bên phần Mật tông, nhưng đối chiếu lại là kinh Thủ Lăng Nghiêm. Ngày xưa lúc chúng tôi ở chùa Phật Quang, khi học kinh Lăng Nghiêm, đến đoạn bảy chỗ hỏi tâm và dụ khách trần, chúng tôi rơi nước mắt.
Trong đoạn bảy chỗ hỏi tâm, Phật hỏi A-nan:
– Ông lấy cái gì để thấy, lấy cái gì để hâm mộ?
A-nan thưa:- Con lấy mắt để thấy và dùng tâm hâm mộ.
Phật hỏi:- Mắt ở đâu?
A-nan trả lời dễ dàng:- Mắt ở trên mặt.
Phật hỏi:- Tâm ở đâu?
A-nan trả lời bảy phen mà Phật không thừa nhận, đó gọi là Thất xứ trưng tâm.

Đến đoạn sau đức Phật nói về dụ khách trần. Phật muốn chỉ nội tâm chúng ta có chia ra hai loại: chân tâm và vọng tâm. Chân tâm thì hằng hữu thường nhiên, không biến đổi, còn vọng tâm thì sanh diệt liên miên, chợt có chợt không. Song chúng ta không biết được chân tâm, chỉ bám vào vọng tâm cho đó là tâm mình thật. Thế nên đức Phật mới dùng thí dụ khách trần. Như có người chủ nhà cho khách nghỉ trọ qua đêm, sáng lại khách ra đi. Vậy khách có đến rồi ra đi, còn người chủ nhà thì luôn luôn ở tại chỗ. Cũng vậy, vọng tâm giống người khách đến rồi đi, còn chân tâm như người chủ thường ở, không vắng mặt bao giờ.
Thí dụ thứ hai là trần, tức là bụi. Buổi sáng mặt trời lên, qua kẽ hở trong nhà có làn ánh sáng chiếu vào, chúng ta nhìn kỹ trong khoảng hư không có ánh sáng thấy rất nhiều hạt bụi di động lăng xăng, đó là trần. Bụi di động lăng xăng nhưng khoảng hư không trong nhà không di động, không đổi dời. Bụi dụ cho vọng tâm, còn hư không trong nhà dụ cho chân tâm. Vậy chân tâm không đổi dời, còn vọng tâm luôn luôn dời đổi.
Từ hai ví dụ khách trần, phải hiểu rằng nơi chúng ta có cái chân thật bất sanh bất diệt mà chúng ta quên, lại nhận cái sanh diệt làm tâm mình, vì vậy chúng ta phải luân hồi sanh tử!
Ngài Pháp Loa đọc tới đoạn này nghiền ngẫm năm ba phen, bỗng nhiên có chỗ vào, tức là nhận được mình có cái chân thật và không còn bị kẹt trong tướng hư vọng nữa.
Ngài từ tạ Hòa thượng Tánh Giác, trở về tham yết với Điều Ngự Giác Hoàng.
Gặp lúc Điều Ngự thượng đường, Sư ra thưa hỏi liền được tỉnh. Điều Ngự nhận biết bèn cho Sư theo hầu hạ Ngài. Một hôm, Sư trình cả ba bài tụng, bị Điều Ngự chê cả.
Sư thưa thỉnh mấy phen, Điều Ngự dạy phải tự tham. Sư vào phòng đầu óc nặng trĩu, thức đến quá nửa đêm, trông thấy bông đèn tàn rụng xuống, Sư chợt đại ngộ. Sư đem chỗ ngộ trình lên Điều Ngự. Ngài thầm nhận ấn khả. Từ đây, Sư thệ tu theo mười hai hạnh đầu-đà (khổ hạnh).
Ngài tự tham cứu, đến quá nửa đêm, khi thấy bông đèn tàn rơi xuống, liền được tỉnh giác. Ngài trình chỗ ngộ, Điều Ngự ấn khả. Từ đó về sau Ngài nguyện trọn đời tu theo khổ hạnh (hạnh đầu-đà).

Đến niên hiệu Hưng Long thứ mười ba (1305), Điều Ngự đem Sư lên liêu Kỳ Lân cho thọ giới Tỳ-kheo và giới Bồ-tát. Thấy chỗ tham học của Sư đã thành đạt, Điều Ngự cho hiệu là Pháp Loa.
Thuở nhỏ ở gia đình Ngài tên là Kiên Cương, khi gặp Điều Ngự xin xuất gia, Điều Ngự gọi là Thiện Lai. Đến khi thấy Ngài ngộ đạo, đủ tư cách làm lợi ích cho chúng sanh, Điều Ngự cho hiệu là Pháp Loa. Chữ Loa có nghĩa là con ốc lớn, mỗi khi có tiệc lễ người ta dùng con ốc để thổi giống như cái tù và, để cho tất cả biết hiệu lịnh mà tụ đến. Như vậy Pháp Loa là cái loa thổi ra chánh pháp.
Năm Hưng Long thứ mười lăm (1307), Sư được hai mươi bốn tuổi, Điều Ngự trụ ở am Thiên Bảo Quan có bảy tám người thị giả mà Sư là đứng đầu. Điều Ngự vì Sư giảng Đại Huệ Ngữ Lục. Đến tháng năm, Điều Ngự lên ở am trên đảnh Ngọa Vân Phong. Ngày rằm làm lễ Bố-tát (sám hối tụng giới) xong, Điều Ngự đuổi mọi người xuống, lấy y bát và viết tâm kệ trao cho Sư dạy khéo gìn giữ.
Năm hai mươi bốn tuổi Ngài được Điều Ngự truyền pháp và tâm kệ.
Năm Hưng Long thứ mười sáu (1308) vào ngày mùng một tháng giêng, Sư vâng lệnh Điều Ngự làm lễ nối pháp trụ trì tại nhà Cam Lồ chùa Siêu Loại. Khai lễ có vua Anh Tông và đình thần đến dự. Điều Ngự lên đàn thuyết pháp rồi nhường chỗ cho Sư giảng đạo. Lễ xong, Điều Ngự đặt Sư kế thế trụ trì chùa Siêu Loại và làm chủ sơn môn Yên Tử, là đời thứ hai của phái Trúc Lâm. Điều Ngự còn trao cho Sư hơn hai trăm bộ kinh sử và bảo Anh Tông sung cúng vào chùa cả trăm khoảnh ruộng.
Năm hai mươi lăm tuổi Ngài nối pháp trụ trì và điều khiển cả Giáo hội. Người xưa mới hai mươi mấy tuổi đã lãnh trọng trách. Còn chúng ta ngày nay trên ba mươi tuổi mà chưa dám nhận trách nhiệm, thật là quá nhút nhát.
Tháng mười một năm ấy (1308), Điều Ngự tịch, Sư phụng mạng cung nghinh xálợi về kinh đô. Trở về núi, Sư soạn lại những bài tụng của Điều Ngự lúc ở Thạch Thất làm thành quyển Thạch Thất Mị Ngữ.
Những bài kệ tụng của Điều Ngự, Ngài kết tập lại thành bộ sách để tên là Thạch Thất Mị Ngữ, tức là những lời nói mớ trong thất đá. Thường chúng ta nghĩ lời Phật, lời các bậc Tôn túc là lời vàng ngọc. Nhưng đối với Thiền sư, những lời giảng dạy nói đông nói tây là phương tiện đánh thức người mê. Là lời nói thì không có thật, chỉ tùy duyên tùy cảnh, nên coi như nói mớ, không có giá trị thật.
Năm Hưng Long thứ mười chín (1311), Sư phụng chiếu tiếp tục khắc bản Đại Tạng Kinh. Sư giao Bảo Sát làm chủ việc này. Tháng tư, Sư giảng Truyền Đăng Lục tại chùa Siêu Loại. Sau đó Huyền Quang trình kiến giải, Sư đều chấp nhận.
Năm Hưng Long thứ hai mươi mốt (1313) vào tháng chín, Sư phụng chiếu đến chùa Vĩnh Nghiêm ở Lượng Giang định chức cho tăng đồ. Chúng tăng từ đây mới có sổ bộ, chính Sư là người cầm sổ bộ ấy. Lúc đó Sư độ hơn một ngàn vị tăng. Về sau cứ ba năm một lần độ tăng như thế.
Mỗi ba năm Ngài độ tăng một lần: Làm sổ bộ, định chức tăng đồ, mỗi lần độ hơn ngàn vị tăng.
Năm Đại Khánh thứ tư (1317), đời Trần Minh Tông, vào tháng hai, Sư bệnh nặng. Sư đem y của Điều Ngự và viết bài tâm kệ trao cho Huyền Quang, pháp khí và gậy trao cho Cảnh Ngung, phất tử trao cho Cảnh Huy, gậy tre trao cho Huệ Quán, pháp thơ và pháp cụ trao cho Huệ Nhiên, linh vàng trao cho Hải Ấn, sử vàng trao cho Huệ Chúc. Sau ít hôm, bệnh Sư được lành.
Ngài bệnh nặng tưởng sắp tịch, nên trao y và tâm kệ cho Huyền Quang và trao nhiều vật dụng khác cho các đệ tử. Nhưng sau đó Ngài lành bệnh.
Những hàng Thái hậu, Công chúa, Vương công, quí khanh đều thỉnh Sư truyền giới xuất gia hoặc giới Bồ-tát, cho đến vua Trần Anh Tông cũng xem như đệ tử. Họ đua nhau cúng đất, vàng, tiền để Sư lập chùa, đúc tượng Phật, in kinh quá nhiều, đến nỗi Sư phải tự xin giảm dần những số quyên cúng, thuyền của vua cấp cho Sư tiện việc đi lại và về kinh đô, Sư cũng từ chối không nhận.
Đây là tinh thần đầu-đà Ngài đã phát nguyện khi trước.
Năm đầu Khai Hựu (1329), đời Trần Hiến Tông, Sư mở thêm cảnh Côn Sơn và Thanh Mai Sơn, làm thành danh lam thắng cảnh. Sư có làm bài thơ đề là Luyến Thanh Sơn:

Âm: Sơ sấu cùng thu thủy,
Sàm nham lạc chiếu trung.
Ngang đầu khán bất tận,
Lai lộ hựu trùng trùng.
Dịch: Thưa gầy làn nước vút,
Chót vót ánh soi trong.
Ngẩng đầu coi chẳng hết,
Đường tới lại trùng trùng.
Trần Tuấn Khải

Có lên Thanh Mai Sơn, chúng ta thấy bài thơ này rất là thích hợp.
Thưa gầy làn nước vút,
Chót vót ánh soi trong.
Thanh Mai Sơn là nơi có nhiều cây cối, ánh trăng soi rọi trong những vòm cây.
Ngẩng đầu coi chẳng hết,
Đường tới lại trùng trùng.
Ngước đầu nhìn nó không cùng tận. Có nhiều lối để tiến lên trên đó rất là thích thú.
Gần mãn đời Sư, kiểm những công tác Phật sự: Đúc tượng Phật kể cả lớn và nhỏ có hơn một ngàn ba trăm (1.300) vị; tạo đại già-lam được hai ngôi; xây tháp được năm ngọn; lập tăng đường hơn hai trăm (200) sở; độ tăng và ni hơn một muôn năm ngàn (15.000) người; in được một bộ Đại Tạng Kinh; đệ tử đắc pháp hơn ba ngàn (3.000) người; thành Đại Pháp sư có sáu vị.
Người xưa thấu tột nguồn tâm, không mắc kẹt ở những đối đãi, những hư giả, nhưng Phật sự các ngài làm không chán mỏi. Chúng ta ngày nay có bệnh nghe nói tu thiền không còn dính mắc danh lợi thì không muốn làm gì cả, chỉ muốn ẩn trong non trong núi. Còn ai ra làm Phật sự thì nói là ham danh ham lợi. Đó là cái nhìn thiển cận.
Ngài Qui Sơn có nói:
Thật tế lý địa bất thọ nhất trần,
Vạn hạnh môn trung bất xả nhất pháp.
Nghĩa là: Trên chỗ thật tế, không có dính một mảy bụi, vì chỗ đó không còn đối đãi. Nhưng trên cửa Phật sự, không bỏ một việc nào, đó là thấy tột. Nếu chấp một bên chỗ thật tế không làm gì cả, khi có ai làm việc gì cho là sự tướng, đó là chấp hình thức, là thấy nông cạn. Thế nên thấy người làm được việc chớ có cười chê, mà phải hiểu trên Phật sự việc nào làm được thì cứ làm, còn chỗ cứu kính thì không có hai.

Năm Khai Hựu thứ hai (1330) ngày mùng năm tháng hai, Sư phát bệnh, trong hội giảng kinh Hoa Nghiêm tại An Lạc tàng viện. Đến ngày mười một thì bệnh rất nặng. Ban đêm Huyền Quang đứng hầu, thấy Sư ngủ mà nói ra tiếng: Hồng! Hồng!
Huyền Quang liền thưa:- Tôn giả nói mớ chăng?
Sư đáp:- Ngủ thì nói mớ, chẳng ngủ thì chẳng nói mớ.
Huyền Quang:- Đâu thể ngủ với thức là một.
Sư bảo:- Ngủ với thức là một.
Huyền Quang:- Đâu thể bệnh cùng chẳng bệnh là một?
Sư bảo:- Bệnh cũng chẳng có can gì y, chẳng bệnh cũng chẳng can gì y.
Huyền Quang:- Tại sao lại có tiếng nói ra ngoài?
Sư bảo:- Nghe tiếng gió thổi cây thì thế nào?
Huyền Quang:- Tiếng gió thổi cây, người nghe chẳng lầm, trong khi ngủ mà nói mớ thì dễ lầm người.
Sư bảo:- Người ngu cũng vẫn lầm tiếng gió thổi cây.
Huyền Quang:- Chỉ một bệnh này đến chết cũng chẳng mạnh.
Sư bèn đạp. Huyền Quang lui ra.
Từ đây bệnh lại giảm xuống. Đến ngày mười ba Sư trở về viện Quỳnh Lâm nơi phương trượng cũ mà nằm. Đệ tử các nơi dồn về thưa hỏi xin kệ. Sư vẫn đối đáp và tùy người cho kệ không biết mệt mỏi.
Đọc đoạn này có một ít dịch giả cho rằng ngài Huyền Quang hay hơn ngài Pháp Loa. Ngài Pháp Loa bị Huyền Quang hỏi một hồi giận quá đạp một cái. Vậy ngài Pháp Loa không tới đâu, chỉ Huyền Quang là cao siêu. Hiểu như vậy thật là tội lỗi, thật quá lệch lạc.
Nay chúng tôi giải thích về sự đối đáp giữa hai thầy trò. Khi ngài Pháp Loa ngủ có thốt ra những tiếng: Hồng! Hồng!
Huyền Quang mới hỏi: Tôn giả nói mớ chăng?
Khi ngủ Ngài nói “Hồng, Hồng”, có phải là Ngài nói mớ chăng?
Pháp Loa đáp: Ngủ thì nói mớ, chẳng ngủ thì chẳng nói mớ. Ý nói nếu Ngài ngủ tức là mê thì có mớ, còn không mê thì đâu có mớ.
Huyền Quang hỏi: Đâu thể ngủ với thức là một.
Pháp Loa bảo: Ngủ với thức là một.
Khi chúng ta tu chưa đến nơi đến chốn thì ngủ khác, thức khác. Nếu tu đến nơi rồi thì ngủ thức không hai. Tại sao? Như người mới đi tu, khi còn ở thế gian ăn mặn tiệc tùng với thiên hạ, nhưng vì mới đi tu độ năm tháng bảy tháng nên khi thức thì nhớ giữ giới cữ mặn, cữ rượu, đến lúc ngủ lại thấy ăn mặn uống rượu như người thế gian. Như vậy ngủ và thức là hai đối với người mới tu. Nếu tiến lên chút nữa, tu được năm năm mười năm, coi như ăn chay thuần thục, khi ngủ mộng thấy người mời tiệc tùng dọn rượu và thức ăn mặn, thì lúc đó nói: Không, tôi ăn chay, không ăn mặn, không uống rượu. Vì mình đã thuần, cho nên lúc thức cũng như lúc ngủ đều không có khác. Đó là nói thuần thục về hình thức.
Nếu thuần thục đến chỗ cứu kính thì ngủ và thức không hai, nghĩa là khi thức ở trong tỉnh sáng, thì khi ngủ cũng ở trong tỉnh sáng. Như trong kinh thường nói, các vị Ala-hán không có ngủ, vì các ngài nằm nghỉ cũng tỉnh sáng như lúc các ngài thức. Còn chúng ta hiện giờ nằm thì mê ngay, mở mắt thì tỉnh, nằm xuống là mê, nên ngủ thức thành hai. Ngủ thức không hai là khi không còn mê nữa, chỉ nằm nghỉ an thần cho tỉnh sáng thôi.
Ở đây ngài Pháp Loa xác nhận: Ngủ với thức là một.
Ngài Huyền Quang nói: Đâu thể bệnh cùng chẳng bệnh là một?
Nếu ngủ với thức là một, thì bệnh và mạnh cũng là một sao? Như chúng ta hiện giờ khi mạnh thì vui cười, khi bệnh thì rên rỉ, làm sao là một được. Nhưng với người đạt đạo, khi đau liền biết có cái không đau, như vậy bệnh và mạnh cũng là một. Ngài không nói một mà nói: Bệnh cũng chẳng có can gì y, chẳng bệnh cũng chẳng can gì y. Câu trả lời rất hay. Bệnh là thân bệnh, tứ đại bệnh còn cái kia không bệnh, cho nên không can gì y. khi mạnh thì tới lui hoạt động, nhưng cái kia không bị dính mắc gì cả, cho nên chẳng bệnh cũng chẳng can gì y.
Huyền Quang hỏi: Tại sao lại có tiếng nói ra ngoài? Nếu không can gì y, tại sao lại nói mớ, tức là có tiếng nói ra ngoài?
Pháp Loa bảo: Nghe tiếng gió thổi cây thì thế nào? Cũng như gió thổi qua cây nghe có tiếng động, như chúng ta ở trên rừng thông, gió thổi lá thông reo. Người bệnh khi thở ra có tiếng động cũng giống như tiếng gió thổi ngoài cây, có gì khác đâu.
Huyền Quang nói: Tiếng gió thổi cây, người nghe chẳng lầm, trong khi ngủ mà nói mớ thì dễ lầm người. Nghe gió thổi cây, biết tiếng gió thổi cây, nhưng khi ngủ thốt ra những tiếng làm người lầm tưởng muốn nói cái gì.
Pháp Loa bảo: Người ngu cũng vẫn lầm tiếng gió thổi cây. Như khi chúng ta đang ở trong thất, gió thổi lá thông khua rào rào tưởng như mưa tới, cũng là lầm vậy.
Huyền Quang nói: Chỉ một bệnh này đến chết cũng chẳng mạnh. Tức là bệnh của thầy đến chết cũng chẳng mạnh.
Đây là lời khen hay chê? Đối với trong đạo, lời nói đó là khen, cho nên ngài Pháp Loa mới lấy chân đạp, ngài Huyền Quang lui ra, đó là một hình ảnh đẹp vô cùng. Nhưng người sau không hiểu tưởng ngài Huyền Quang chê ngài Pháp Loa: chỉ một bệnh này đến chết cũng chẳng mạnh, nên ngài Pháp Loa giận đạp một cái. Hiểu như vậy là sai lầm.
Nhớ lại ngày xưa khi đức Phật nhập Niết-bàn, ngài Ca-diếp đang ở xa, nên không có mặt khi nhục thân Phật được đặt vào kim quan chờ ngày trà-tỳ. Ngài Ca-diếp hay tin Phật niết-bàn mới dẫn đồ chúng đi về, nhiễu kim quan Phật ba vòng rồi đảnh lễ. Khi ấy hai bàn chân Phật duỗi ra khỏi kim quan, ngài Ca-diếp quì xuống nắm bàn chân Phật, đó là hình ảnh truyền tâm trong giờ phút cuối cùng.
Đến ngài Thanh Nguyên Hành Tư sai Hy Thiên đem thơ sang Thiền sư Hoài Nhượng:
– Ngươi đem thơ xong về nhanh, ta sẽ cho chiếc búa nhỏ để lên ở núi.
Hy Thiên đem thơ xong về, thưa:
– Hòa thượng hứa cho chiếc búa, con xin nhận búa để ở núi.
Ngài Thanh Nguyên liền duỗi chân ra, Hy Thiên đảnh lễ, về trụ ở núi. Duỗi chân ra là truyền cho một cái gì, chớ không phải là giận. Nghĩa là việc của người trò đã xong, thầy trao cho cái này để trò an ổn tu hành, trao bằng cách là duỗi chân. Người trò hiểu, liền đảnh lễ, như vậy là thầy trò thông cảm.
Còn ở đây qua câu nói của ngài Huyền Quang: Chỉ một bệnh này đến chết cũng chẳng mạnh. Bệnh này là bệnh gì? Tức là bệnh nói rõ sống chết không hai, hay là bệnh và không bệnh không hai, ngủ và thức không hai. Bệnh này tới chết cũng không mạnh, tức là không bao giờ quên. Đó là lời khen, lời tán thán vị thầy đã được một cái chưa bao giờ đổi thay, chưa bao giờ sanh diệt. Người học trò cảm thông được lời nói của thầy, cho nên thầy mới duỗi chân ra. Người học trò liền xá rồi lui. Đó là thầy trò thông cảm chớ đâu có giận. Thế mà nói thầy giận đạp cho một cái, thành ra rất là phàm tục, chỗ này chúng ta cần phải hiểu thật rõ để khỏi lầm lẫn.
Bệnh càng ngày càng trầm trọng, nhưng khi có ai xin kệ Ngài vẫn luôn luôn viết kệ cho không biết mệt mỏi.
Đến ngày mùng một tháng ba, Thượng hoàng Trần Minh Tông đích thân đến thăm bệnh và gọi Thái y đến trị cho Sư.
Đến tối mùng ba bệnh Sư trở lại nặng.
Huyền Quang thưa:- Xưa nay đến chỗ ấy, buông đi là tốt hay nắm lại là tốt?
Sư bảo:- Thảy đều không can hệ.
Huyền Quang:- Khi thảy đều không can hệ thì thế nào?
Sư bảo:- Tùy xứ tát-bà-ha.
Buông là tốt hay nắm là tốt? Tức là muốn thử vị thầy coi lúc mệt mỏi như thế nào?
Ngài bảo: Thảy đều không can hệ.
Buông nắm là hai bên, không có dính dáng gì với cái chân thật. Khi thảy đều không can hệ thì thế nào?
Ngài bảo: Tùy xứ tát-bà-ha. Câu đáp thật hay đáo để. Tùy nơi mà thênh thang, không có dính mắc chi cả.
Đệ tử đồng đến thỉnh:
– Người xưa lúc sắp tịch đều có để kệ dạy đệ tử, sao riêng Thầy không có?
Sư quở trách họ. Giây lâu bèn ngồi dậy bảo đem giấy viết lại. Sư viết một bài kệ:

Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn,
Tứ thập dư niên mộng huyễn gian.
Trân trọng chư nhân hưu tá vấn,
Na biên phong nguyệt cánh man khoan.
Dịch: Muôn duyên cắt đứt, một thân nhàn,
Hơn bốn mươi năm giấc mộng tràng.
Nhắn bảo mọi người thôi chớ hỏi,
Bên kia trăng gió rộng thênh thang.

Đọc bài kệ này chúng ta cảm thấy vui lây với Ngài. Muôn duyên cắt đứt một thân nhàn. Cắt đứt được muôn duyên thật thảnh thơi vô cùng, có gì đâu mà lo sợ.
Hơn bốn mươi năm giấc mộng tràng. Hơn bốn mươi năm, vì Ngài thọ được bốn mươi bảy tuổi, chỉ là giấc mộng dài thôi.
Nhắn bảo mọi người thôi chớ hỏi. Khuyên các ông đừng hỏi tôi chi nữa.
Bên kia trăng gió rộng thênh thang. Khi nhắm mắt rồi, cả một bầu trời trăng trong gió mát mênh mông, đâu có gì phải lo buồn, hỏi han chi cho bận. Ra đi như vậy thật thảnh thơi biết mấy.
Viết xong, Sư ném bút, an nhiên thị tịch, thọ bốn mươi bảy tuổi. Đệ tử theo lời phó chúc của Sư, đem nhục thể lên nhập tháp tại Thanh Mai Sơn.
Chúng tôi có lên Thanh Mai Sơn viếng tháp của Ngài, đó là chân tháp, vì trong tháp có nhục thể của Ngài.
Đến ngày mười một tháng ba, Thái thượng hoàng ngự bút ban hiệu Sư là Tịnh Trí Tôn Giả, tháp tên Viên Thông, tặng mười lượng vàng để xây tháp và đề một bài thi vãn:

Thùy thủ trần hoàn dĩ liễu duyên,
Giác Hoàng kim lũ đắc nhân truyền.
Thanh Sơn mạn thảo quan tàng lý,
Bích thọ thâm sương xác thuế thiền.
Dạ yểm giảng đường kim cổ nguyệt,
Hiểu mê trượng thất hữu vô yên.
Tương đầu châm giới ta phi tích,
Trác tựu ai chương thế lệ huyền.
Dịch: Đã hết duyên trần thõng tay đi,
Giác Hoàng kim tuyến được truyền y.
Thanh Sơn cỏ mọc che phần mộ,
Cây biếc trong sương để xác ve.
Đêm phủ giảng đường trăng kim cổ,
Ngày ngày trượng thất khói mờ che.
Thân mến biết bao, ôi! Luyến tiếc,
Nhớ công giáo hóa lệ đầy mi

Bài thi vãn của Thái thượng hoàng thật là hay.
Đã hết duyên trần thõng tay đi.
Duyên trần đã hết thì buông tay mà đi, không có gì bận bịu.
Giác Hoàng kim tuyến được truyền y.
Ngài được Điều Ngự Giác Hoàng truyền y kim tuyến.
Thanh Sơn cỏ mọc che phần mộ.
Tháp của Ngài ở Thanh Mai Sơn, cỏ mọc che lần lần.
Cây biếc trong sương để xác ve.
Trong sương mấy con ve sầu lột xác trên cây xanh.
Đêm phủ giảng đường trăng kim cổ.
Đêm đến ánh trăng phủ giảng đường nơi Ngài hằng thuyết pháp.
Ngày ngày trượng thất khói mờ che.
Ban ngày khói mờ che khuất thất một trượng của Ngài.
Thân mến biết bao, ôi! Luyến tiếc.
Thương lắm, ôi luyến tiếc biết bao!
Nhớ công giáo hóa lệ đầy mi.
Nhớ công ơn giáo hóa của Ngài mà lệ tràn mi.
Đây là bài thơ của Thái thượng hoàng tán thán công ơn ngài Pháp Loa và tỏ lòng thương mến luyến tiếc Ngài.
Những tác phẩm của Sư còn lưu truyền lại có:
– Đoạn sách Lục.
– Tham Thiền Chỉ Yếu. (Thiền Đạo Yếu Học?)
– Kim Cương Đạo Tràng Đà-la-ni Kinh.
– Tán Pháp Hoa Kinh Khoa Số.
– Bát-nhã Tâm Kinh Khoa.
– Và một bài kệ thị tịch…
Học qua ngài Pháp Loa, chúng ta có thể toát yếu một vài điểm cho dễ nhớ.
So với các Thiền sư, ngài Pháp Loa tịch sớm nhất, lúc bốn mươi bảy tuổi, lý do là vì khi còn trong bào thai, mẹ uống thuốc phá thai. Đó là cớ để bào thai phải suy yếu, nên tuổi thọ của Ngài không dài. Tuy tuổi thọ ngắn nhưng việc làm của Ngài quá nhiều, người sống tám mươi tuổi chưa chắc bằng được.
Năm hai mươi bốn tuổi Ngài đã ngộ đạo, được truyền y bát và tâm kệ, đến hai mươi lăm tuổi lãnh đạo cả Giáo hội, làm chủ sơn môn Yên Tử, đời thứ hai của phái Trúc Lâm. Chỉ trong hai mươi năm, Ngài làm được không biết bao nhiêu công tác: Độ Tăng Ni tu hơn mười lăm ngàn người, độ Phật tử thì nhiều vô số khó mà đếm hết, khắc bản in Đại Tạng Kinh, cất chùa đắp tượng, làm những Phật sự rất nhiều. Nhưng điểm rất quí kính là Ngài ngộ được Tâm tông, tu theo thiền được yếu chỉ cao đẹp và siêu thoát. Tuy ngộ Tâm tông mà Ngài không quên làm những việc như giảng kinh, truyền giới, hình thức nào Ngài cũng không từ chối, thật đúng với câu: “Thật tế lý địa bất thọ nhất trần, vạn hạnh môn trung bất xả nhất pháp.” Ngài không kẹt bên lý, về lý thì Ngài thấu triệt viên mãn, “bất thọ nhất trần”. Về sự thì Ngài làm đầy đủ “bất xả nhất pháp”. Lý sự viên dung là đặc điểm mà chúng ta phải quí kính ở Ngài.
Lại nữa tuy làm Phật sự rất nhiều mà Ngài vẫn giữ tư cách người tu khổ hạnh, không nhận thuyền rồng của nhà vua tặng để đi lại, số quyên cúng quá nhiều, Ngài cũng giảm bớt không dám nhận. Danh lợi có thừa mà Ngài không thích, đó là điều rất cao quí, chúng ta cần phải học. Khi ra đi, Ngài đi trong tỉnh sáng, không mê mờ kinh hoàng, qua bài kệ trước khi tịch chúng ta thấy rõ điều đó. Người chân tu thực học thì có kết quả tốt đẹp cho đời và đạo hết sức là cụ thể.
Trong đường lối của Ngài do Điều Ngự Giác Hoàng dạy, Ngài đã từng giảng kinh như kinh Hoa Nghiêm và giảng lục cho đồ đệ. Như vậy là đúng với tinh thần Thiền giáo đồng hành, không phải nghiêng bên thiền mà bỏ giáo, hay nghiêng bên giáo mà bỏ thiền.
Thiền giáo hỗ tương là chủ trương chúng ta đang ứng dụng hiện nay. Vì thế nói đến Thiền tông đời Trần là nói đến Thiền giáo đồng hành, chớ không phải tu thiền là không cần học kinh.
Học các Thiền sư đời Trần, chúng ta thấy các ngài tuy đa đoan Phật sự mà vẫn tu.
Còn chúng ta hiện giờ lãnh vài ba việc thì than nhiều quá tu không được! Như ngài Pháp Loa làm rất nhiều việc, có rảnh được chút nào đâu, nhưng chính trong cái đa đoan đó Ngài không quên mình không mất mình. Học các ngài, chúng ta nhớ những gương hay đẹp để ứng dụng, không phải học chỉ để biết suông mà thôi.


THAM VẤN
Một hôm mở hội thuyết pháp, Sư lên tòa nói:
– Đại chúng! Nếu nhắm thẳng vào đệ nhất nghĩa đế mà nói, thì động niệm liền sai, mở miệng là lầm, làm sao mà xét, làm sao mà quán? Hôm nay căn cứ vào đầu thứ hai mà nói, cũng không được thế ấy.
Sư bèn nhìn hai bên nói:
Trong đây có người nào đầy đủ con mắt lớn chăng? Nếu có, hai cặp chân mày chẳng cần vén lên. Bằng không, bần đạo chẳng khỏi miệng nói ba hoa, đề ra những điều hủ mục, đáp những lời tạp nhạp. Chỉ vì các ông nhồi lại thành một khối hỗn độn. Lắng nghe! Lắng nghe!
Đại đạo rộng suốt nào có ràng buộc, bản tánh lặng lẽ không thiện không ác. Bởi do chọn lựa chợt sanh nhiều lỗi, vừa khởi mảy may đã cách xa trời đất. Phàm thánh vốn đồng một mối, phải quấy đâu có hai đường. Cho nên biết, tội phước vốn không, cứu kính nhân quả chẳng thật. Người người sẵn đủ, kẻ kẻ trọn thành. Phật tánh pháp thân như hình như bóng, tùy ẩn tùy hiện, chẳng tức chẳng ly. Lỗ mũi duỗi thẳng xuống, chân mày nằm ngang mặt, ở trên mặt mà không dễ gì nhìn thấy. Cần phải tìm xét, đâu chẳng nghe nói:
“Ba ngàn pháp môn đồng về tấc vuông, hà sa diệu dụng đều ở nguồn tâm”, nên nói: Cửa giới cửa định cửa tuệ, ông không thiếu sót, cần phải phản quán nơi mình. Phàm những tiếng ho tiếng tằng hắng, nhướng mày chớp mắt, tay cầm chân đi, ấy là tánh gì? Biết được tánh này ấy là tâm gì? Tâm tánh rỗng sáng, cái nào phải, cái nào chẳng phải? Pháp tức là tánh, Phật tức là tâm. Tánh nào chẳng phải là pháp? Tâm nào chẳng phải là Phật?
Tức tâm tức Phật, tức tâm tức pháp. Pháp vốn chẳng phải pháp, pháp tức là tâm. Tâm vốn chẳng phải tâm, tâm tức là Phật.
Các nhân giả! Ngày tháng dễ dàng qua, mạng người không chờ đợi, sao cam ăn cháo ăn cơm mà chẳng rõ việc bát việc muỗng? Tham!
*
Có vị Tăng bước ra nói:
– Mặc áo ăn cơm là việc tầm thường, đâu cần phải sanh nghi ngờ?
Ông lễ bái xong, đứng dậy hỏi:
– Cõi thiền không dục, là khỏi hỏi, cõi dục không thiền xin nói cho một câu.
Sư lấy tay điểm trong hư không.
Vị Tăng nói:
– Dùng đàm dãi cổ nhân làm gì?
– Mỗi lần nhắc lại mỗi lần mới.
Vị Tăng thưa:
– Cổ nhân đều hỏi: “Thế nào là Phật, thế nào là Pháp, thế nào là Tăng”, chỉ đây thế nào? Việc ấy thế nào?
Sư đáp:
– Thế nào? Việc ấy thế nào?
Vị Tăng thưa:
Dây đờn đã đứt tri âm ít,
Cao vút tiếng đờn cha con hòa…
(Một huyền cầm thượng tri âm thiểu
Phụ tử đàn lai cách điệu cao…)
Một hôm Sư nghe đồ chúng tụng kinh, bèn hỏi:- Chúng làm gì?
Có vị Tăng ra thưa:- Chúng niệm Phật tâm.
Sư bảo:- Nếu nói là tâm, tâm tức không Phật. Nếu bảo là Phật, Phật tức không tâm.
Thế gọi cái gì là tâm?
Vị Tăng ấy đáp không được.
Sư lại hỏi vị Tăng khác:- Chúng làm gì?
Tăng thưa:- Niệm Phật.
Sư bảo:- Phật vốn không tâm thì niệm cái gì?
Tăng thưa:- Chẳng biết.
Sư bảo:- Ngươi đã chẳng biết, vậy nói đó là ai?
Tăng không đáp được.
Sư nói kệ:

Âm: Nghị khổng hội đề,
Tiêm trần ế mục.
Nhất hạnh tài thất,
Bách hạnh câu khuynh.
Trân trọng!
Dịch: Hang kiến vỡ đê,
Mảy bụi che mắt.
Một hạnh vừa mất,
Trăm hạnh đều nghiêng.
Trân trọng!

Giảng:
Một hôm mở hội thuyết pháp, Sư lên tòa nói:
– Đại chúng! Nếu nhắm thẳng vào đệ nhất nghĩa đế mà nói, thì động niệm liền sai, mở miệng là lầm, làm sao mà xét, làm sao mà quán? Hôm nay căn cứ vào đầu thứ hai mà nói, cũng không được thế ấy.
Căn cứ vào đệ nhất nghĩa đế, chỗ cứu kính chân thật, thì dấy niệm là sai, mở miệng là lầm, làm gì có quán có chiếu. Nay muốn diễn đạt cho người thấy được chỗ cao siêu của Phật pháp, tức là căn cứ vào đầu thứ hai mà nói, cũng không được thế ấy. Đầu thứ nhất là không đối đãi, đầu thứ hai là có đối đãi. Căn cứ vào đối đãi mà nói, cũng chưa đến được chỗ cứu kính.
Sư bèn nhìn hai bên nói:
Trong đây có người nào đầy đủ con mắt lớn chăng? Nếu có, hai cặp chân mày chẳng cần vén lên. Bằng không, bần đạo chẳng khỏi miệng nói ba hoa, đề ra những điều hủ mục, đáp những lời tạp nhạp. Chỉ vì các ông nhồi lại thành một khối hỗn độn. Lắng nghe! Lắng nghe!
Trước hết Ngài gạn lại trong chúng có người nào có con mắt lớn không? Mắt lớn là con mắt thấy được chỗ cứu kính, chỗ cùng tột. Nói con mắt là nói sự giác ngộ, nếu có mắt lớn thì cặp chân mày chẳng cần vén lên cũng nhìn thấy. Những vị lớn tuổi chân mày lần lần dài ra phủ mắt, muốn thấy phải vén chân mày. Còn con mắt lớn khỏi cần vén chân mày cũng tự thấy Nếu không được như vậy, bần đạo chẳng khỏi miệng nói ba hoa tức là nói lăng xăng lộn xộn, đề ra những điều hủ mục là những điều tầm thường không đáng, đáp những lời tạp nhạp không có giá trị.
Chỉ vì các ông nhồi lại thành một khối hỗn độn. Lắng nghe! Lắng nghe! Như vậy những gì giảng được nói được cho tất cả nghe, chỉ là cái hỗn độn không chân thật. Thế nên nghe thì cũng ráng nghe, nương cái hư dối để nhận ra cái chân thật, đừng bảo rằng lời giảng dạy đến được chỗ rốt ráo cứu kính, điều này không thể được.
Đại đạo rộng suốt nào có ràng buộc, bản tánh lặng lẽ không thiện không ác. Bởi do chọn lựa chợt sanh nhiều lỗi, vừa khởi mảy may đã cách xa trời đất. Phàm thánh vốn đồng một mối, phải quấy đâu có hai đường. Cho nên biết, tội phước vốn không, cứu kính nhân quả chẳng thật. Người người sẵn đủ, kẻ kẻ trọn thành. Phật tánh pháp thân như hình như bóng, tùy ẩn tùy hiện, chẳng tức chẳng ly. Lỗ mũi duỗi thẳng xuống, chân mày nằm ngang mặt, ở trên mặt mà không dễ gì nhìn thấy. Cần phải tìm xét, đâu chẳng nghe nói:
“Ba ngàn pháp môn đồng về tấc vuông, hà sa diệu dụng đều ở nguồn tâm”, nên nói: Cửa giới cửa định cửa tuệ, ông không thiếu sót, cần phải phản quán nơi mình. Phàm những tiếng ho tiếng tằng hắng, nhướng mày chớp mắt, tay cầm chân đi, ấy là tánh gì? Biết được tánh này ấy là tâm gì? Tâm tánh rỗng sáng, cái nào phải, cái nào chẳng phải? Pháp tức là tánh, Phật tức là tâm. Tánh nào chẳng phải là pháp? Tâm nào chẳng phải là Phật?
Tức tâm tức Phật, tức tâm tức pháp. Pháp vốn chẳng phải pháp, pháp tức là tâm. Tâm vốn chẳng phải tâm, tâm tức là Phật.
Đoạn này rất là khó hiểu.
Đại đạo rộng suốt nào có ràng buộc. Đại đạo có phải là chỉ con đường lớn ở bên ngoài chăng? Thật ra chữ đại đạo là chỉ tâm chân thật sẵn có của tất cả chúng ta, tâm thể thanh tịnh đó rộng lớn không có gì buộc ràng.
Bản tánh lặng lẽ không thiện không ác. Bản tánh, đại đạo tuy là hai tên, thật ra chỉ một thể, thể ấy lặng lẽ không thiện không ác. Như Lục Tổ bảo Thượng tọa Minh: “Nếu muốn thấy được chỗ chân thật thì phải im lặng nghe tôi hỏi: ‘Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?’ ” Vậy bản lai diện mục là từ dùng để chỉ bản tánh hay đại đạo. Nó không bị buộc ràng, không bị kẹt ở thiện ở ác. Hiểu như vậy chúng ta mới không bị từ ngữ làm chướng ngại.

Bởi do chọn lựa chợt sanh nhiều lỗi, vừa khởi mảy may đã cách xa trời đất. Trong Tín Tâm Minh hai câu đầu là:
Chí đạo vô nan,
Duy hiềm giản trạch.
Chữ đại đạo ở đây chính là chữ “chí đạo” trong Tín Tâm Minh. Sở dĩ có lỗi lầm là vì giản trạch, vì chọn lựa. Vừa khởi mảy may tức là vừa có một niệm rất nhỏ dấy lên đã cách xa đại đạo như trời với đất.
Phàm thánh vốn đồng một mối, phải quấy đâu có hai đường. Phàm thánh đồng một mối, đó là mối đại đạo, hay mối bản tánh. Phàm thánh đều có đại đạo, đều có bản tánh hay bản lai diện mục. Phải quấy đâu có hai đường. Khi mê thì phải quấy khác nhau, nếu tỉnh, phải quấy đều là hư dối, từ mê lầm phát ra, không có thật. Cho nên nói không có hai đường, tức là đều nằm trong hư dối không thật. Như trong chùa, khi bàn luận nói thế này là phải, thế kia là quấy, rốt cuộc cả hai đều hư dối!
Cho nên biết tội phước vốn không, cứu kính nhân quả chẳng thật. Câu này thật là khó hiểu, nếu không khéo chúng ta sanh chấp, gây thành nghiệp tội vô cùng. Tội phước vốn không, tại sao? Tội là những điều đau khổ, phước là những điều an lạc. Vậy đau khổ an lạc khác nhau, tại sao ở đây lại nói tội phước vốn không? Thật ra với con mắt mê muội, chúng ta thấy tội phước khác nhau rõ ràng. Thí dụ như chúng ta được khen là giỏi là tốt, hoặc bị chê là dở là xấu, thì giỏi dở có khác, tốt xấu có khác. Nhưng lời khen, lời chê là thật hay là hư dối? Chỉ là lời rỗng thôi, không có lẽ thật. Tùy theo trường hợp mà chúng ta phát ra những ngôn ngữ hoặc tán thán hoặc chê bai. Làm điều gì hợp sở thích thì chúng ta khen, không hợp thì chúng ta chê. Nhưng sở thích mỗi người mỗi khác, cho nên cùng làm một việc mà được người này khen, bị người kia chê. Vì vậy tiếng khen tiếng chê không có giá trị thật, tùy tâm ưa ghét của người mà phát ra. Tiếng khen chê đã không thật, thì tội phước có thật đâu! Thế mà ai có tội thì buồn khổ, ai có phước thì vui mừng, làm sao nói là không thật được!
Thông thường trên thế gian người mê thì sợ khổ thích vui; còn người tỉnh thì thấy khổ vui không có hai, vì khổ vui chỉ là tướng tạm bợ giả dối bên ngoài. Như khi vào rạp hát xem các chú hề nói giễu, chúng ta vui cười hỉ hạ, nhưng lúc ra khỏi rạp thì còn vui không? Cái vui chỉ trong chốc lát rồi hết đi. Cái khổ cũng vậy, như chúng ta có điều gì bất an trong lòng, thì thật là khổ, nếu có ai giải giùm cái bất an đó, thì chúng ta vui ngay.
Như vậy khổ vui cũng là tạm bợ, tùy duyên không có thật, thì tội phước cũng không thật.
Cứu kính nhân quả chẳng thật. Tại sao? Vì nhân quả là sự biến chuyển sanh diệt.
Như hạt lúa gieo xuống đất, có phân, đất, nước, ánh nắng lần lần phát triển thành cây lúa, trổ ra bông lúa. Đó là chiều sanh diệt biến chuyển từ nhân đến quả, nên nói nhân quả chẳng thật. Chẳng thật là đối với người ngộ, còn với người mê thì có nhân có quả rõ ràng, không tránh được.
Người người sẵn đủ, kẻ kẻ trọn thành. Người người sẵn đủ, tức là ai ai cũng có bản lai diện mục hay mặt thật muôn đời của mình. Kẻ kẻ trọn thành, tức là biết hướng về cái sẵn đủ thì đều thành tựu. Thế nhưng có người biết hướng về, có người không. Như trong kinh Pháp Hoa Phật có thí dụ: Có kẻ nghèo khổ thiếu đói được người bạn tặng cho một viên ngọc quí, nếu đem ra bán để tiêu xài thì thành cự phú. Khi chúng ta được viên ngọc đó bán ra thành cự phú, nhìn lại những người bạn thân nghèo khó của mình, ai cũng được tặng viên ngọc quí đang cột trong chéo áo mà không hay biết, lúc đó do lòng từ bi chúng ta phải làm gì? Trọng trách chúng ta như thế nào? Không cần đi quyên tiền để mua gạo mua cơm, không cần cất nhà cất cửa cho họ, chỉ cần khéo nhắc cho họ nhớ có viên ngọc quí đang cột trong chéo áo. Nếu nhắc mà họ không nhớ, chúng ta phải tìm đủ phương cách chỉ cho họ thấy, đó là thương họ, là cứu họ. Nếu cho cơm gạo, vật dùng mà không chỉ viên ngọc là chưa thật lòng thương. Trong kinh Pháp Hoa Phật dạy: “Nói pháp còn trong đối đãi, hay còn trong Nhị thừa là bị lỗi bỏn sẻn.” Tại sao chúng ta có viên ngọc đem ra xài thành giầu có mà không chỉ thẳng viên ngọc cho người đem ra dùng, lại nói loanh quanh những điều không cần thiết, không xứng đáng, có phải là bỏn sẻn không?
Thế nên người tu khi biết mình có hòn ngọc quí và hưởng được sự an lạc do ngọc quí đem lại thì điều quan trọng tối thượng là phải chỉ hòn ngọc đó cho mọi người biết, còn những điều chung quanh là phụ thuộc không đáng kể.
Phật tánh pháp thân như hình như bóng, tùy ẩn tùy hiện, chẳng tức chẳng ly. Phật tánh pháp thân đối với thân này như hình với bóng không có rời nhau, nhưng tùy duyên khi ẩn khi hiện. Như khi chúng ta đi ra nắng, thấy bóng rõ ràng, còn vào trong chỗ mát thì không thấy bóng. Thấy bóng là hiện, không thấy là ẩn. Cũng vậy chúng ta tu khi tâm an ổn đôi phần, thấy mình có cái chân thật trùm khắp, không phải chỉ có vọng tưởng suy nghĩ hơn thua phải quấy là tâm, mà còn có cái gì cao siêu hơn nữa. Cái chân thật cao siêu đó tùy duyên có khi ẩn có khi hiện, nó không phải là mình, cũng không phải rời mình.
Ngài Động Sơn khi qua cầu ngộ chỗ chẳng phải tức, chẳng phải ly. Tại sao chẳng phải tức? Vì hình không phải tức là bóng. Cũng chẳng phải ly, vì rời hình thì không có bóng.
Cho nên nói: “Ta không phải là y, mà y chính là ta.” Vì thân này không phải là cái bóng, mà cái bóng từ thân này mới có.
Lỗ mũi duỗi thẳng xuống, chân mày nằm ngang mặt, ở trên mặt mà không dễ gì nhìn thấy. Chân mày nằm ngang, mũi duỗi thẳng xuống, mày ngang mũi dọc ở trên mặt luôn luôn mà không nhìn thấy, chỉ thấy thiên hạ, không thấy lỗ mũi của mình. Đó là để nói cái chân thật hiện tiền, không thiếu vắng một phút giây nào, chúng ta lại không thấy
không nhận, vì cứ đuổi theo vọng cảnh bên ngoài nên quên mất cái thật của chính mình, giống như quên chân mày và lỗ mũi vậy.
Cần phải tìm xét, đâu chẳng nghe nói: “Ba ngàn pháp môn đồng về tấc vuông, hà sa diệu dụng đều ở nguồn tâm.”
Ba ngàn pháp môn đồng về tấc vuông. Tấc vuông là chỉ chữ tâm (tấc vuông Tàu ngày xưa, đó là chữ tâm). Như vậy tất cả pháp môn gốc từ tâm, không từ nơi nào khác.
Hà sa diệu dụng đều ở nguồn tâm. Diệu dụng nhiều vô số như cát dưới sông, cũng từ nguồn tâm.
Nên nói: Cửa giới cửa định cửa tuệ, ông không thiếu sót, cần phải phản quán nơi mình. Giới định tuệ chúng ta đều đủ, không thiếu sót. Tuy nhiên chúng ta cần phải phản quan lại mình mới nhận thấy được. Nếu không phản quan, tuy có mà không hay không biết.
Phàm những tiếng ho tiếng tằng hắng, nhướng mày chớp mắt, tay cầm chân đi, ấy là tánh gì? Một câu hỏi này là đủ, quí vị phải tự trả lời. Nói gì thêm nữa là dư.
Biết được tánh này ấy là tâm gì? Tâm gì biết được tánh này?
Tâm tánh rỗng sáng, cái nào phải, cái nào chẳng phải? Như vậy tâm tánh rỗng sáng, có cái gì là phải chẳng phải?
Pháp tức là tánh, Phật tức là tâm. Cho nên nói: Pháp tánh, Phật tâm, tâm tánh không hai.

Tánh nào chẳng phải là pháp? Tâm nào chẳng phải là Phật? Tất cả tâm là chỉ cho Phật, tất cả tánh là chỉ cho pháp, Phật pháp không có rời chính mình, nên nói:
Tức tâm tức Phật, tức tâm tức pháp.
Tâm là Phật nếu đừng mắc kẹt hai bên, nếu còn kẹt hai bên thì tâm đó là phàm phu.
Vậy muốn làm Phật thì phải bỏ hai bên, chuyện dễ như trở bàn tay, không có gì khó khăn.
Không phải do ai, không phải nhờ ai, chính mình đừng dính hai bên thì đó là Phật. Việc tu có khó lắm chăng mà chúng ta phải luân hồi vô số kiếp? Chỉ vì mở miệng thì nói phải quấy, hơn thua, tốt xấu! Thế nên người xưa chỉ hét hoặc hư hư thôi, không có gì phải nói.
Người xưa đã tha thiết chỉ cái thật mà chúng ta đâu có hiểu, thấy hư hư, không biết cái gì, nghĩ rằng vị này không nói được, hoặc nghe hét thì nói vị kia dữ quá không nói lời gì cho có đạo lý. Vì thế chúng ta thường kẹt hai bên, nên càng xa tâm Phật. Không có hai bên tức tâm là Phật, tức tâm là pháp.
Pháp vốn chẳng phải pháp, pháp tức là tâm. Phật cũng không phải Phật, pháp cũng không phải pháp, vì chỉ là một thể chân thật. Nói có Phật có pháp, có phàm có Thánh, đều là hai bên. Thế nên cuối cùng:
Tâm vốn chẳng phải tâm, tâm tức là Phật. Tâm không phải là tâm, mà tâm tức Phật, khi nào đừng mắc kẹt hai bên. Bây giờ chúng ta ngồi suy nghĩ cái gì đừng dính hai bên thì suy nghĩ suốt ngày cũng được, nếu còn dính thì đừng suy nghĩ. Sở dĩ chúng ta chạy ngược chạy xuôi vì cái hai bên, dừng lại thì đạo lý hiện tiền. Vì vậy định tức là dừng hai bên. Đó là lời dạy chí lý của Ngài, tuy chí lý nhưng Ngài vẫn cho là lời hỗn độn, chưa phải là thật.
Các nhân giả! Ngày tháng dễ dàng qua, mạng người không chờ đợi, sao cam ăn cháo ăn cơm mà chẳng rõ việc bát việc muỗng? Tham! Chỉ biết ăn cháo ăn cơm, mà không biết rõ cái bát cái muỗng đựng cháo đựng cơm! Phải tham cứu cho ra. Đó là lời dạy rất chí yếu của Ngài.
*
Có vị Tăng bước ra nói:
– Mặc áo ăn cơm là việc tầm thường, đâu cần phải sanh nghi ngờ?
Ông lễ bái xong, đứng dậy hỏi:
– Cõi thiền không dục, là khỏi hỏi, cõi dục không thiền, xin nói cho một câu.
Sư lấy tay điểm trong hư không.
Vị Tăng nói:
– Dùng đàm dãi cổ nhân làm gì?
– Mỗi lần nhắc lại mỗi lần mới.
Thế giới chúng ta đang ở gọi là cõi dục (dục giới). Tăng hỏi: Xin nói cho một câu:
Tại sao cõi dục không thiền? Ngài lấy tay điểm trong hư không. Trong cõi ta-bà, nếu chúng ta đuổi theo ngũ dục thì có thiền không? Muốn có thiền thì ngay trong cõi này đừng dính mắc cái gì. Điểm hư không, đừng dính cái gì, đó là thiền.
Thấy Ngài điểm hư không, vị Tăng nói:
– Dùng đàm dãi cổ nhân làm gì?
Người xưa đã làm như vậy, Ngài bắt chước theo làm chi? Ngài nói:
– Mỗi lần nhắc lại mỗi lần mới.
Tuy người xưa đã làm, nhưng hiện nay ông hỏi, tôi phải nhắc lại cho ông, tôi làm đó là cái mới, chớ không phải cái cũ của cổ nhân.
Vị Tăng thưa:
– Cổ nhân đều hỏi: “Thế nào là Phật, thế nào là Pháp, thế nào là Tăng”, chỉ đây thế nào? Việc ấy thế nào?
Sư đáp:
– Thế nào? Việc ấy thế nào?
Khi vị Tăng hỏi: “việc ấy thế nào”, Ngài hỏi lại “thế nào”, chớ không đáp thêm nữa.
Vị Tăng thưa:
Dây đờn đã đứt tri âm ít,
Cao vút tiếng đờn cha con hòa…
(Một huyền cầm thượng tri âm thiểu,
Phụ tử đàn lai cách điệu cao…)
Vị Tăng tỏ rằng ông đã ngộ, đã hiểu.
Một hôm Sư nghe đồ chúng tụng kinh, bèn hỏi:
– Chúng làm gì?
Có vị Tăng ra thưa:
– Chúng niệm Phật tâm.
Sư bảo:
– Nếu nói là tâm, tâm tức không Phật. Nếu bảo là Phật, Phật tức không tâm. Thế gọi cái gì là tâm?
Vị Tăng ấy đáp không được.
Vì vị Tăng thưa: chúng niệm Phật tâm, nên Ngài hỏi lại: nếu nói là tâm, tâm tức không Phật. Nếu bảo là Phật, Phật tức không tâm. Thế gọi cái gì là tâm? Vị Tăng không đáp được.
Sư lại hỏi vị Tăng khác:
– Chúng làm gì?
Tăng thưa:
– Niệm Phật.
Sư bảo:
– Phật vốn không tâm thì niệm cái gì?
Tăng thưa:
– Chẳng biết.
Sư bảo:
– Ngươi đã chẳng biết, vậy nói đó là ai?
Tăng không đáp được.
Ngài bảo: Phật vốn không tâm thì niệm cái gì? Tăng thưa: Chẳng biết. Tưởng đáp như vậy là ổn.
Nhưng Ngài hỏi lại: Ngươi nói chẳng biết, vậy nói đó là ai? Nói chẳng biết thì nói đó là ai nói? Vị Tăng không đáp được.
Sư nói kệ:

Nghị khổng hội đề,
Tiêm trần ế mục.
Nhất hạnh tài thất,
Bách hạnh câu khuynh.
Trân trọng!
Dịch: Hang kiến vỡ đê,
Mảy bụi che mắt.
Một hạnh vừa mất,
Trăm hạnh đều nghiêng.
Trân trọng!

Nghị khổng hội đề: Hang kiến có thể làm vỡ đê. Hang kiến bao lớn, cái đê bao lớn, mà hang kiến có thể làm vỡ đê? Hang kiến rất nhỏ chưa bằng ngón tay út, song nếu chúng ta coi thường, đến mùa lũ lụt có thể làm vỡ đê.
Tiêm trần ế mục: Chỉ một hạt bụi nhỏ tí ti, nếu rơi vào tròng mắt, mắt cũng bị mờ.
Nhất hạnh tài thất: Một hạnh vừa mất.
Bách hạnh câu khuynh: Trăm hạnh đều nghiêng. Tại sao? Thí dụ người cư sĩ tại gia giữ năm giới là hạnh của cư sĩ: Không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Giả sử trong năm hạnh mất đi một hạnh, thì các hạnh kia tất phải rung rinh nghiêng theo. Nếu người cư sĩ phạm giới trộm cắp, tuy không nói dối, không tà dâm, không uống rượu, không sát sanh nhưng cũng bị nhiễm dơ. Người xuất gia cũng thế, nếu trong mười giới Sa-di mà phạm phải một giới nặng thì các giới kia cũng nghiêng ngả theo.
Qua bốn câu kệ này, Ngài nhắc nhở tất cả người tu chúng ta, cư sĩ cũng như xuất gia, luôn luôn phải dè dặt, dù một lỗi nhỏ cũng không nên xem thường, vì phạm một lỗi nhỏ có thể làm hại việc lớn. Như một hang kiến ở trong bờ đê, hang kiến rất nhỏ chúng ta xem thường, nhưng đến mùa lũ lụt nước dâng lên tràn ngập thì hang kiến nhỏ sẽ thành lỗ mội, có thể làm cho đê bị vỡ. Vì thế không bao giờ chúng ta xem thường những lỗi nhỏ của mình, tuy nhỏ chưa đáng gì, nhưng nếu để nó phát triển thì một ngày kia có thể hại tất cả hạnh lớn của mình. Đó là nói các hạnh về hình tướng.
Còn về nội tâm, một ý niệm xấu vừa dấy lên chưa thành vấn đề, nhưng nếu chúng ta không kịp thời ngăn chận thì nó có thể lôi kéo chúng ta tạo thành những tội lỗi lớn.
Thế nên một ý niệm nhơ xấu dấy lên, phải kịp thời chận đón nó lại, nếu để nó thành hình thì nguy hiểm sẽ đến. Cũng như một mảy bụi tí ti đối với con mắt không thấm vào đâu, nhưng nếu rơi vào tròng mắt thì mắt bị mờ tối. Con người cũng thế, về đạo đức chúng ta cố giữ mọi việc cho tốt đẹp, nhưng nếu một ý niệm xấu dấy lên, chúng ta coi thường, nó có thể làm cho các niệm tốt kia bị mờ xấu theo.

Phần kết thúc bài kệ, Ngài nói một hạnh mất đi, thì trăm hạnh khác cũng bị nghiêng đổ, không phải chỉ mất một hạnh thôi mà những hạnh kia cũng không nguyên vẹn. Như người xuất gia chúng ta nếu phạm một giới trong những giới nặng, thì bao nhiêu giới khác tuy không phạm cũng mất luôn, không phải phạm giới nào là có tội giới đó thôi, mà còn ảnh hưởng đến những giới khác. Thế nên người tu phải dè dặt tối đa, giữ gìn từng ý niệm từng hành động, một ý niệm dở xấu vừa dấy khởi chúng ta phải ngăn chận ngay, đừng cho nó thành hình, vì những tội lớn khởi mầm từ cái nhỏ. Thí dụ: Thấy một món đồ tốt của người, chưa thành tội, vừa dấy niệm lén lấy, tuy niệm này nhỏ, nhưng nó khiến cái tay lượm món vật và giấu đi. Thế là thành tội ăn cắp. Vậy tội ăn cắp không phải bỗng dưng thành, mà từ niệm nhỏ dấy lên không kịp thời ngăn lại, nên thành tội lớn.
Cho nên tất cả cái lớn không tự có mà từ cái nhỏ tạo thành. Vì thế người tu phải luôn luôn ngăn ngừa không cho niệm đầu dấy khởi, rồi nó dẫn chúng ta đi trong đường tội lỗi, hư cả một đời tu. Đó là điều ngài Pháp Loa muốn nhắc nhở toàn chúng phải ráng nhớ tu đừng để một đời qua suông, thật là uổng phí.


LỜI KHUYÊN XUẤT GIA TIẾN ĐẠO
(Khuyến Xuất Gia Tiến Đạo Ngôn)

DỊCH:
Kính khuyên chúng xuất gia học đạo, hãy xét kỹ những lời này: Chúng ta nghiệp
dầy phước mỏng, ra đời chẳng gặp thời chánh pháp, đức Thích-ca đã nhập diệt, đức Dilặc chưa sanh, Thánh Hiền ẩn bóng, tà pháp thạnh hành, than ôi buồn thay!
Những vị xuất gia, vốn vì đền đáp bốn trọng ân, nghĩ cứu giúp ba đường khổ. Nếu muốn đạt được tâm Phật ý Tổ, biết sanh hiểu tử, trước phải học hai pháp. Thế nào là hai?
Một, phải học ba thứ pháp. Hai, phải học pháp cầu thầy.
Ba thứ pháp là: 1. Rõ tông sư. 2. Biện pháp chân ngụy. 3. Biết thiện ác.
1.- Rõ tông sư.- Kinh Bản Hạnh nói: Từ trước Tổ Sư thuyết pháp những gì? Có bao nhiêu người đắc đạo nối pháp truyền tông, đến nay thầy nào, chúng nào đáng học?
2.- Biện pháp chân ngụy.- Nếu pháp chân là thường giữ giới luật, y pháp tiến tu.
Nếu pháp ngụy, như trong lời lục của Đại Huệ nói: Bàn luận ngoại đạo, phỏng đoán nghĩa lý, lập làm tông chỉ, rồi trao truyền cho nhau.
3.- Biết thiện ác.- Nếu gần gũi bạn lành là thường khuyên mình sám hối để diệt những tội lỗi trước, siêng năng tìm thiện tri thức, tu hành tinh tấn… nếu gần gũi bạn ác thì miệng nói xuất gia mà tâm làm theo nghiệp thế tục, tự làm và dạy người làm, tâm không biết hổ thẹn.
Trên là ba pháp nên gần gũi và không nên gần gũi.
Hai, phải học pháp cầu thầy.- Như trong Lễ Tán nói: “Thường ở trong tùng lâm của thiện tri thức, hằng nằm trong khuôn vức của Tổ Sư. Đó là phương pháp chọn bạn tìm thầy vậy.”
Nếu người đầy đủ cả hai pháp trên, tức là đã đạt được tâm Phật ý Tổ và biết sanh hiểu tử.
Này các người! Bên trong đã bỏ cha mẹ, bên ngoài thì không thông Phật pháp, tự xưng là tu hành, vậy tu hành là cái đạo gì? Các người nên xét kỹ lời nói này. Trong kinh Đại Báo Phụ Mẫu Ân nói: “Mười tháng mang thai, ba năm bú sú, ân nào sánh bằng” mà các người còn bỏ được, huống là những kẻ bên ngoài? Thế lại bo bo chấp tình thầy trò, không thể cổi bỏ, không phược trở lại tìm phược, không trói lại cầu trói. Chỉ vì tham cầu lợi dưỡng, chẳng sợ trầm luân. Hoặc đắm mê danh vọng ở đời, hoặc tự mình không hiểu không biết, ấy đều là bọn vô minh vậy.
Từ trước, các Tổ Sư hành đạo tu thiền, tâm đồng với hư không, mặc đến mặc đi, hoặc nam hoặc bắc, tham thiền hỏi đạo, nhân duyên hội ngộ thì tự lợi lợi tha, ấy mới thật là Phật pháp.

GIẢNG:
Kính khuyên chúng xuất gia học đạo, hãy xét kỹ những lời này: Chúng ta nghiệp dầy phước mỏng, ra đời chẳng gặp thời chánh pháp, đức Thích-ca đã nhập diệt, đức Dilặc chưa sanh, Thánh Hiền ẩn bóng, tà pháp thạnh hành, than ôi buồn thay!
Qua lời mở đầu, chúng ta ý thức được thân phận của mình sanh nhằm thời nào. Vì chúng ta nghiệp dầy phước mỏng, nên khi ra đời, đức Phật Thích-ca đã nhập diệt, chẳng gặp thời chánh pháp. Đức Phật chia giáo pháp Ngài ra ba thời: chánh pháp, tượng pháp và mạt pháp. Thời chánh pháp là năm trăm năm đầu từ khi Phật còn tại thế, thời tượng pháp là năm trăm năm kế tiếp, và sau đó là thời mạt pháp. Hiện nay chúng ta sanh ra nhằm thời mạt pháp, việc đi tu thật quá muộn màng. Phật Thích-ca đã nhập diệt, Phật Dilặc chưa sanh, ở khoảng giữa này Thánh Hiền ẩn bóng, tà pháp thạnh hành, than ôi buồn thay! Các bậc Thánh Hiền đã ẩn, pháp tà lại thạnh, thật đáng buồn cho thân phận người xuất gia trong thời này. Giờ đây ý thức được phận mình, chúng ta phải cố gắng làm những gì?
Những vị xuất gia, vốn vì đền đáp bốn trọng ân, nghĩ cứu giúp ba đường khổ.
Là người xuất gia, chúng ta phải hiểu rõ vì sao chúng ta đi tu? Lý tưởng của người tu là muốn trên đền đáp bốn trọng ân, dưới cứu giúp ba đường khổ.
Bốn trọng ân là:

Ơn cha mẹ,
Ơn Thầy Tổ (hay là ơn Tam Bảo),
Ơn quốc gia,
Ơn đàn-na thí chủ.

Ơn cha mẹ – Ơn cha mẹ rất là sâu nặng, người đời còn hiếu kính cha mẹ, huống là chúng ta biết đạo đi tu mà không biết đền ơn cha mẹ hay sao? Cha mẹ có công ơn sanh thành dưỡng dục, chúng ta đi tu không sớm hôm phụng dưỡng mẹ cha, nếu đi tu vì sự an vui thảnh thơi cá nhân thì thật là tội lớn vô kể. Để đền ơn cha mẹ, chúng ta phải tu cho đạt đạo, trở về hướng dẫn cha mẹ cùng tu. Đó mới là người con chí hiếu.
Khi xưa bà Di mẫu Ma-ha Ba-xà-ba-đề xin Phật xuất gia, Phật từ chối. Ngài A-nan xót xa mới vào bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, khi xưa Ngài sanh ra mới có bảy hôm thì Hoàng hậu băng hà, Di mẫu nuôi Ngài từ thuở bé đến ngày khôn lớn, công ơn bà rất nặng, vì sao Thế Tôn không cho bà xuất gia? Như vậy Ngài không biết đền ơn người có công lớn với mình hay sao?”
Đức Phật bảo: “Ta đã đền ơn Phụ vương và Di mẫu rồi. Sau khi thành đạo, ta trở về thành Ca-tỳ-la-vệ giáo hóa Phụ vương và Di mẫu thọ trì Tam qui Ngũ giới, đó là ta đã đền ơn.”

Vậy sự đền ơn của người tu khác với người cư sĩ là giáo hóa cho cha mẹ biết được đạo đức, biết thọ trì Tam qui Ngũ giới để thoát khỏi ba đường khổ, đồng thời có chủng tử lành để sau này gặp lại Phật pháp tiến tu. Đền ơn cha mẹ là cứu cha mẹ khỏi rơi trong ba đường ác (địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh), hoặc hơn thế nữa là hướng dẫn cha mẹ tu Thập thiện, hay là xuất gia tu Phật để thoát khỏi trầm luân trong sanh tử. Thế nên vì cứu cha mẹ mà chúng ta đi tu, nếu đời này chưa tròn bản nguyện, thì đời vị lai chúng ta cố gắng làm tròn bổn phận của mình. Đi tu không phải là quên cha mẹ, không phải vì sự an vui của bản thân mình, mà chính vì muốn đền đáp công ơn cha mẹ.
Ơn Thầy Tổ – Thầy Tổ là những bậc đã chỉ dẫn cho mình con đường tu hành để tiếp nối ngọn đèn chánh pháp, soi sáng cho mọi người khỏi bị tối tăm trong sanh tử.
Muốn đền ơn Phật Tổ, chúng ta phải hiểu thông đạo lý, tu hành có đạo lực mới có thể nối tiếp ngọn đèn chánh pháp được.
Ơn quốc gia – Sống trong đất nước, dù ít dù nhiều chúng ta cũng phải nhớ công ơn những người đã gìn giữ đất nước được thanh bình an ổn, để chúng ta ngồi yên tu hành.
Không nên nghĩ rằng chúng ta đi tu rồi ai làm gì cũng mặc, không cần biết tới. Công ơn người giúp mình yên ổn ngồi tu không bị loạn lạc, đói thiếu, đó là công ơn quốc gia.
Ơn đàn-na thí chủ – Các Phật tử cúng dường là để quí thầy quí cô được yên tu, làm Phật sự, rồi sau này độ lại Phật tử, chớ không phải để Tăng Ni xài chơi thỏa thích.
Đây là món nợ, đâu phải là chuyện bỗng dưng. Thế nên mỗi khi nhận lãnh sự cúng dường, chúng ta phải cố gắng tu để đền ơn đàn-na thí chủ.
Như vậy muốn đền đáp bốn ơn, điều kiện tiên quyết là chúng ta phải tu làm sao cho thấy đạo, cho đủ công đức để sau này đáp lại công ơn sâu nặng đối với người đã sanh ra mình, đã nuôi dưỡng mình bằng chánh pháp, bằng tiền của và tạo cho mình điều kiện được an ổn tu hành.
Lại nữa chúng sanh ngày đêm đang đau khổ trong ba đường địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, cho nên chúng ta phải thấy đạo, hiểu rõ chánh pháp để giáo hóa cho mọi người trong hiện tại biết tu, không tạo nhân rơi vào ba đường khổ. Và mỗi ngày mỗi đêm tu, chúng ta hồi hướng công đức, nguyện họ sớm thức tỉnh để mau thoát khỏi ba đường ác.
Muốn được như thế, chúng ta phải có tài có đức, bằng không thì chẳng bao giờ chúng ta làm tròn được bổn phận của mình. Tóm lại lý tưởng của người xuất gia là phải trên đền đáp bốn ơn, dưới cứu giúp ba đường khổ. Đừng nghĩ rằng chúng ta đi tu để giải thoát đời này, rồi nhập Niết-bàn cho yên, không nghĩ tới công ơn cha mẹ, thầy Tổ và đàn-na thí chủ. Vô tình chúng ta thành người ích kỷ, không thấy được cái khổ của chúng sanh, của những người đã đem bao nhiêu công của để lo cho mình. Thế nên chúng ta phải hiểu thật kỹ, thấy thật rõ bổn phận người tu phải làm gì, để đừng bao giờ lãng quên, đừng bao giờ phai nhạt ý nghĩa xuất gia.
Nếu muốn đạt được tâm Phật ý Tổ, biết sanh hiểu tử, trước phải học hai pháp. Thế nào là hai? Một, phải học ba thứ pháp. Hai, phải học pháp cầu thầy.

I. BA THỨ PHÁP LÀ:
1. Rõ tông sư. 2. Biện pháp chân ngụy. 3. Biết thiện ác.
1. Rõ tông sư.
Kinh Bản Hạnh nói: Từ trước Tổ Sư thuyết pháp những gì? Có bao nhiêu người đắc đạo nối pháp truyền tông, đến nay thầy nào, chúng nào đáng học?
Chúng ta là người học Phật, mà Phật đã nhập Niết-bàn hơn hai ngàn năm, làm sao học với Phật được? Học Phật có nghĩa là học với thầy. Vậy phải học với thầy nào? Nếu thầy không hiểu đạo, không nắm vững đường lối của Phật Tổ dạy, thì chúng ta có nên học không? Cho nên muốn học Phật thì phải tìm thầy. Ngài không nói ý riêng mà dẫn kinh làm chứng. Trong kinh Bản Hạnh, Phật dạy: “Từ trước Tổ sư thuyết pháp những gì?
Có bao nhiêu người đắc đạo nối pháp truyền tông, đến nay thầy nào, chúng nào đáng học?”
Chúng ta phải hiểu từ đức Phật đến chư Tổ truyền đạo thế nào, và hiện nay thầy nào chúng nào đáng cho mình đến học. Chúng đáng cho mình đến học là chúng có sự thừa kế từ chư Phật, chư Tổ nối tiếp mãi đến ngày nay. Nếu những người không biết gốc nguồn, không biết chỗ chân thật của Phật Tổ mà chúng ta nương theo, thì sẽ bị lệch lạc.
Thế nên bước đầu vào đạo là phải tìm ra những bậc tông sư đã hiểu được đường lối của Phật Tổ chỉ dạy, thế mới đúng là người biết lựa chọn bậc thầy. Đó là nền tảng của người tu chớ không phải là thường. Nhiều khi người học đạo đi tìm thầy, gặp người ăn nói nhỏ nhẹ hiền lành, tiếp đãi tử tế liền tôn làm thầy xin vào tu học, thế là mãn nguyện rồi mà không biết vị đó đã học với ai, tu như thế nào, hiểu đạo hay không? Đó là không biết chọn tông sư. Tông sư phải là bậc kế thừa đạo lý, nắm vững đường lối của Phật Tổ để chúng ta nương theo đó tiến tu.
2. Biện pháp chân ngụy.
Nếu pháp chân là thường giữ giới luật, y pháp tiến tu.
Nếu là pháp chân thật, thì pháp đó dạy chúng ta phải giữ gìn giới luật, y theo chánh pháp tiến tu. Luật và pháp là hai môn chúng ta phải nắm cho vững, đó gọi là pháp chân.
Nếu pháp ngụy, như trong lời lục của Đại Huệ nói: Bàn luận ngoại đạo, phỏng đoán nghĩa lý, lập làm tông chỉ, rồi trao truyền cho nhau.
Luận bàn giáo lý của ngoại đạo, rồi phóng đại nghĩa lý, nghĩ thế nào nói thế ấy mà không y cứ vào kinh điển, vào giới luật, đó là pháp ngụy. Rồi cứ như vậy mà truyền dạy cho nhau, điều này hiện nay rất là phổ biến.
Muốn biện chân ngụy, chúng ta phải nhớ chân là y cứ theo giới luật của Phật mà gìn giữ, y cứ theo pháp của Phật để tiến tu; ngụy là bàn luận hay học hỏi theo ngoại đạo, rồi tự ý đặt ra nghĩa này, lý kia truyền dạy cho nhau.
3. Biết thiện ác.
Nếu gần gũi bạn lành là thường khuyên mình sám hối để diệt những tội lỗi trước, siêng năng tìm thiện tri thức, tu hành tinh tấn.
Bạn lành thường khuyên mình ăn năn sám hối, chừa những lỗi trước. Siêng năng tìm thiện tri thức là siêng năng tìm những người bạn lành, những người thầy giỏi khuyến khích mình tu hành tinh tấn. Vậy chúng ta phải kiểm tra lại những người bạn chung quanh mình xem ai là bạn lành giúp chúng ta trên đường tu.
Nếu gần gũi bạn ác thì miệng nói xuất gia mà tâm làm theo nghiệp thế tục, tự làm và dạy người làm, tâm không biết hổ thẹn.
Bạn ác là những người tuy nói là xuất gia mà tâm làm theo nghiệp thế tục. Thí dụ như chúng ta tu có chùa có bổn đạo, nên còn dư chút đỉnh, có người cũng xuất gia như mình đến rủ mở mang việc làm ăn, hay cho vay lấy lời, xem như thương mình lắm, nhưng sự thật thì họ xui mình làm giống người thế tục. Đồng tiền của Phật tử cúng dường chỉ để nuôi Tăng Ni tu học, ngoài ra là làm việc từ thiện, chớ không cầu lợi theo thế gian.
Nếu hùn hạp làm ăn có lời rồi cố gắng kinh doanh mãi sẽ thành người thế tục, chớ không phải là nhà tu nữa! Thế nên người xuất gia chúng ta phải dè dặt đừng sống theo nghiệp thế gian. Tự làm và dạy người làm, mình đã làm chuyện thế tục, còn dạy người khác làm theo mà tâm không biết hổ thẹn, lại thấy hài lòng thỏa mãn, đó là trái với đạo lý.
Trên là ba pháp nên gần gũi và không nên gần gũi.
Thử kiểm nghiệm lại xem, trên đường tu chúng ta có thực thi đúng ba pháp nên gần gũi và ngăn chừa các pháp không nên gần gũi hay không? Nếu người tu ở riêng rẽ dễ bị khuyên dụ làm những việc theo thế tục, còn nếu ở tập thể như trong Thiền viện thì chắc chắn tránh được điều này.

II. PHẢI HỌC PHÁP CẦU THẦY.
Như trong Lễ Tán nói: “Thường ở trong tùng lâm của thiện tri thức, hằng nằm trong khuôn vức của Tổ Sư. Đó là phương pháp chọn bạn tìm thầy vậy.”
Về pháp cầu thầy, Ngài không có đặt ra tiêu chuẩn riêng, mà bảo chúng ta phải học theo trong Lễ Tán dạy:
Thường ở trong tùng lâm của thiện tri thức tức là phải luôn luôn ở trong chỗ đông đảo có những bậc thầy đáng tin tưởng để hướng dẫn mình.
Hằng nằm trong khuôn vức của Tổ sư là ở trong phạm vi chùa chiền của các Tổ sư.
Đó là phương pháp chọn bạn tìm thầy vậy.
Chúng ta nên nhớ người tu ở những nơi có bậc thầy lo lắng chỉ dạy, hướng dẫn tu hành thì dễ tu hơn. Nếu chúng ta ở chỗ riêng rẽ rất là khó tu, vì có đủ các thứ duyên ràng buộc, duyên tốt duyên xấu đều có, duyên tốt thì được, duyên xấu thì hỏng. Thế nên người tu phải ở nơi tùng lâm của thiện tri thức, phải ở trong khuôn vức của Tổ sư. Đó là gốc của người biết học pháp và biết chọn thầy.
Để kết thúc Ngài dạy:
Nếu người đầy đủ cả hai pháp trên, tức là đã đạt được tâm Phật ý Tổ và biết sanh hiểu tử.
Nếu chưa đầy đủ hai pháp trên thì chưa xứng đáng là người xuất gia.
Này các người! Bên trong đã bỏ cha mẹ, bên ngoài thì không thông Phật pháp, tự xưng là tu hành, vậy tu hành là cái đạo gì?
Ngài hỏi câu này thật là đau. Như người chí thân bên trong là cha mẹ, chúng ta đã bỏ, bên ngoài là đạo lý chúng ta học cũng không thông, thế mà chúng ta xưng là tu hành, vậy tu cái đạo gì? Nếu nói tu Phật thì phải thông hiểu Phật pháp. Nếu không hiểu thì tu cái gì. Câu hỏi này phải đáp như thế nào?
Các người nên xét kỹ lời nói này, các người phải tự vấn và tự trả lời, chúng tôi không trả lời thế được.
Trong kinh Đại Báo Phụ Mẫu Ân nói: “Mười tháng mang thai, ba năm bú sú, ân nào sánh bằng” mà các người còn bỏ được, huống là những kẻ bên ngoài? Thế lại bo bo chấp tình thầy trò, không thể cổi bỏ, không phược trở lại tìm phược, không trói lại cầu trói.
Công ơn cha mẹ sâu dầy, người xuất gia còn bỏ, huống là kẻ bên ngoài. Thế lại chấp tình thầy trò, chấp tình huynh đệ, không thể cổi bỏ, không bị buộc trói trở lại tìm cầu buộc trói! Chúng ta vào đạo tu hành với mục đích là giải thoát sanh tử, thế mà vào đạo rồi trói cột với người này người kia thì giải thoát chỗ nào? Thật là đáng trách! Chúng ta phản bội lại lý tưởng của mình, phản bội lại lời hứa với cha mẹ. Có người nào xin đi tu mà thưa với cha mẹ là ở nhà con buồn quá, cho con vô chùa kiếm huynh đệ chơi cho vui, có nói như vậy không? Hay là thưa ở nhà tình cảm gia đình trói buộc tu hành khó, con vào đạo để chuyên tu cầu giải thoát sanh tử, sau này về độ cha mẹ tu hành, có phải thưa như vậy không? Chuyên tu cầu giải thoát mà vào chùa rồi trói buộc với huynh đệ thì làm sao giải thoát? Thật là điều đáng trách!
Chỉ vì tham cầu lợi dưỡng, chẳng sợ trầm luân. Hoặc đắm mê danh vọng ở đời, hoặc tự mình không hiểu không biết, ấy đều là bọn vô minh vậy.
Đi tu chỉ vì tham cầu lợi dưỡng, chỉ muốn kết bè bạn đặng làm ra nhiều tiền nhiều của, mà không sợ rơi trong ba đường khổ, hay trầm luân trong tam giới. Đi tu mà chỉ tham danh tham lợi, không hiểu biết chi cả. Ấy đều là bọn vô minh, chớ không phải là người giác ngộ tu hành. Chúng ta phải kiểm lại xem mình có rơi vào bọn vô minh đó không? Người xưa thật đã đắng miệng khô môi chỉ dạy chúng ta làm sao cho xứng đáng là người tu cầu đạo giải thoát.
Từ trước, các Tổ Sư hành đạo tu thiền, tâm đồng với hư không, mặc đến mặc đi, hoặc nam hoặc bắc, tham thiền hỏi đạo, nhân duyên hội ngộ thì tự lợi lợi tha, ấy mới thật là Phật pháp.

Các Tổ sư ngày xưa tu hành, tâm các ngài giống như hư không, không có dính mắc, cho nên mặc tình đến mặc tình đi, không có gì ràng buộc. Hoặc đi phương nam, hoặc đi phương bắc, cốt làm sao tìm hỏi cho ra đạo lý, nhân duyên hội ngộ thì tự lợi lợi tha. Được như vậy mới thật là người ở trong Phật pháp, bằng không tức là bọn vô minh.
Bài học này tuy ngắn mà rất thấm thía. Ngài Pháp Loa nói thẳng cho toàn chúng thấy rõ trọng trách của người tu. Nếu không thực hiện được thì việc tu của chúng ta còn nhiều lệch lạc.


KHUYÊN CHÚNG THƯỢNG THỪA TAM HỌC
(Thượng thừa tam học khuyến chúng phổ thuyết)

DỊCH:
Là người học Phật trước phải thấy tánh. Thấy tánh, không phải có tánh bị thấy.
Nói thấy, là thấy chỗ không thể thấy mà thấy vậy. Cho nên nói thấy, thấy không phải thấy, thì chân tánh hiện. Tánh thấy là vô sanh, sanh thấy thì chẳng phải có, chẳng có cái tánh thật, mà thấy thật không dời đổi. Thế nên gọi là chân thật thấy tánh.
Sau khi thấy tánh, phải gìn giữ giới cho thanh tịnh. Thế nào là giới thanh tịnh?
Nghĩa là trong mười hai giờ, ngoài dứt các duyên, trong tâm không loạn. Vì tâm không loạn động nên cảnh đến vẫn an nhàn. Mắt không vì cái sở duyên của thức mà chạy ra, thức không vì cái sở duyên của cảnh mà chun vào. Ra, vào không giao thiệp nên gọi là ngăn chận. Tuy nói ngăn chận mà không phải ngăn chận. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như
thế. Đó gọi là giới Đại thừa, là giới vô thượng cũng gọi là giới vô đẳng đẳng. Tịnh giới này, dù Tiểu tăng cho đến bậc Đại tăng đều phải gìn giữ.
Nhân giữ giới vững chắc không động, kế đó mới tập thiền. Cái yếu chỉ của thiền định là thân tâm đều xả. Trước tập định tâm, thường tự suy xét: thân này từ đâu mà đến?
tâm này từ đâu mà có? Tâm không thật có thì từ đâu có thân? Thân tâm đều không thì pháp từ đâu mà có? Pháp không thật có, vì không có cái có, cái có có đó từ đâu mà có?
Cái có có đó đã không thì không có pháp có. Mỗi pháp chẳng phải pháp, thì mỗi pháp nương vào đâu? Không có chỗ dựa nương thì pháp không phải mỗi pháp. Pháp này không thật cũng chẳng phải không thật. Chứng được thật pháp, mới hay chứng nhập thiền.

Người tu tập thiền định không được chấp dụng công, dụng mà không có chỗ dụng, gọi là Thiền thượng thừa. Ngoài tham thoại đầu không cho gián đoạn, miên mật liên tục không có kẽ hở, cũng không điên đảo, không trạo cử cũng không hôn trầm. Phải trong sáng như viên ngọc lăn trên mâm, phải sáng suốt như gương trên đài. Đến chỗ đất này, đi cũng được, đứng cũng được, ngồi cũng được, nằm cũng được, nói hay nín đều cũng đuợc, có chỗ nào lại không được?
Đã được thế rồi, về sau mới nêu lên những câu ngộ: Tam quan, tam huyền, tam yếu, ngũ vị, tứ liệu giản, tứ tân chủ, tứ chiếu dụng v.v… các cơ quan của Thiền Tổ. Bảy phen soi tám phen dùi, nhồi đi ép lại, thấu triệt chân nguyên. Chừng đó, mới hay mượn pháp tòa của Phật Đăng Vương [Phật Tu-di Đăng Vương ở thế giới Tu-di Tướng phương đông (kinh Duy-ma-cật, quyển trung, phẩm Bất tư nghì)], nắm sừng thỏ, nhổ lông rùa, tay hoa một phen chuyển, bốn chúng thảy mịt mờ. Phát sanh vô thượng diệu tuệ, chiếu soi không cùng. Đối với tứ vô lượng tâm, tứ niệm xứ, tứ vô úy, bát chánh đạo, thập lực của Phật, mười tám pháp bất cộng, cho đến tám muôn bốn ngàn môn đà-la-ni, trần trần sát sát, tất cả môn tam-muội đều từ nơi mình lưu xuất mỗi mỗi đều đầy đủ.
Tuệ đã đầy đủ, ban cho chúng sanh, nguyện lực không cùng tận, tự giác giác tha, tứ sanh và cửu loại, tất cả đều được thấm nhuần. Nếu tuệ mà không định gọi là càn tuệ (tuệ khô), định mà không tuệ gọi là si thiền.
Thiền có chia làm năm: 1. Phàm phu thiền, 2. Ngoại đạo thiền, 3. Tiểu thừa thiền,
4. Đại thừa thiền, 5. Thượng thừa thiền. Đây nói thiền, chính là Thượng thừa thiền vậy.
Thiền này, từ đức Phật Tỳ-lô-giá-na trải qua số kiếp bất khả thuyết bất khả thuyết đến đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Đức Thích-ca truyền xuống cho hai mươi tám vị Tổ ở Ấn Độ và sáu vị Tổ ở Trung Hoa, rồi Tổ Tổ trao tay cho nhau truyền bá khắp nơi, tính không thể hết được. Các vị đều do giới này, định này, tuệ này mà được chứng ngộ, thật không có pháp nào khác.
Các chú! Các chú đã vào trong chùa làm ông đạo, làm học trò, chỉ cầu danh dự mà chẳng chịu tham đến chỗ, cái gì là chỗ hạ thủ của Phật, Tổ? Cái gì là chỗ dụng tâm của ngoại đạo, Tiểu thừa? Luống để cho ngày lại tháng qua, lăng xăng tìm cầu bên ngoài.
Một phen cái chết đến rồi phải làm sao? Đâu là nơi an thân lập mạng? Vả lại, ba ngàn oai nghi tám muôn tế hạnh, chính mình không có một mảy may. Một hôm nào đó, vua Diêm- la đến ắt không thể tha cho ngươi. Ngươi sao chẳng chịu xét lại, chớ lấy các việc trong mộng, rồi bác không nhân quả “mênh mang bát ngát chiêu ương họa”. Như thế chẳng những làm đồi bại tông môn, mà cũng khiến suy tàn chánh pháp.
Ôi! Tôi còn biết nói gì hơn!

GIẢNG:
Bài này nhắc nhở chúng ta bổn phận người tu, đúng ra là đi thẳng vào Thiền tông, quí vị ráng chú tâm nghe thật kỹ.
Khuyên chúng Thượng thừa tam học. Tam học là giới, định, tuệ. Đây nói về giới định tuệ của Thượng thừa, không phải của Nhị thừa hay của Bồ-tát thừa.
Là người học Phật trước phải thấy tánh. Thấy tánh, không phải có tánh bị thấy.
Nói thấy, là thấy chỗ không thể thấy mà thấy vậy. Cho nên nói thấy, thấy không phải thấy, thì chân tánh hiện. Tánh thấy là vô sanh, sanh thấy thì chẳng phải có, chẳng có cái tánh thật, mà thấy thật không dời đổi. Thế nên gọi là chân thật thấy tánh.
Là người học Phật trước phải thấy tánh.
Chúng tôi nhắc thật kỹ, quí vị phải thầm hiểu, thầm nhận. Phàm người học Phật, nhất là chuyên về Thượng thừa thiền, cốt phải thấy tánh tức là “Kiến tánh”, cũng như Lục Tổ nói: Cốt phải kiến tánh.
Thấy tánh không phải có tánh bị thấy.
Chỗ này phải hết sức chú ý vì chúng ta thường bị kẹt ở chữ thấy tánh. Thí dụ như chúng ta nói: Tôi thấy cuốn sách, thì cuốn sách ở bên ngoài tôi, nó là cái bị thấy, còn tôi là cái hay thấy. Như vậy cuốn sách và tôi là hai, phải không?
Nếu nói thấy tánh thì tánh đó là mình hay là của ai? Mà tánh của mình, làm sao mình thấy? Đó là một vấn đề, nếu không khéo chúng ta dễ bị lầm lẫn.
Nghe nói thấy tánh, chúng ta ngỡ rằng tu để mình thấy tánh của mình, mà tánh của mình là cái gì ở ngoài mình để mình thấy? Như vậy mình muốn thấy tánh, thì tánh là cái bị thấy, và mình là cái hay thấy. Vậy cái bị thấy là mình, hay cái hay thấy là mình? Cái bị thấy không bao giờ là mình được. Còn nếu cái hay thấy là mình, thì nói thấy tánh là thấy ai? Mình thấy mình được không? Tôi thấy là thấy người thấy vật ở ngoài, chớ tôi không thấy con mắt tôi, có phải thế không? Hay nói cách khác là tôi không thấy cái hay thấy của tôi. (Cũng như con mắt không thấy được con mắt!) Vậy nói thấy tánh là thấy mình, có được không?
Tôi cho ví dụ nếu quí vị nào khéo sáng một chút thì nhận ra. Khi con mắt tôi bệnh thì tôi không thấy được các vật bên ngoài, nếu con mắt tôi mạnh thì tôi nhìn thấy tất cả sự vật.
Nếu có người hỏi: Con mắt Thầy sáng hay tối?
Tôi trả lời: Con mắt tôi sáng.
Hỏi: Tại sao Thầy biết con mắt Thầy sáng?
Đáp: Vì tôi thấy tất cả vật bên ngoài, cho nên tôi biết mắt tôi sáng.
Khi tôi khẳng định con mắt tôi sáng, không chút nghi ngờ, cái khẳng định đó từ ngữ nhà Phật gọi là “kiến”.
Bây giờ nếu con mắt tôi mờ và có người nói: “Có bình hoa hồng đỏ đặt trên bàn”, vì mắt mờ nên tôi chưa thấy rõ. Nếu có người hỏi: Thầy có thấy bình hoa hồng đỏ đặt trên bàn không? Vì tôi chưa thấy rõ nên còn nghi ngờ, không biết phải hay không? Trái lại nếu mắt tôi sáng, tôi thấy rõ thì tôi khẳng định là: Phải, có bình hoa hồng đỏ đặt trên bàn. Tôi khẳng định đó là do mắt tôi sáng nhìn thấy, còn mắt tôi mờ chưa thấy thì chưa dám khẳng định. Bây giờ tôi khẳng định là tôi có con mắt sáng, tức là tôi thấy con mắt tôi sáng, chớ không phải tôi thấy được con mắt sáng, mà tôi chỉ khẳng định con mắt tôi sáng.
Chữ “thấy” là khẳng định không ngờ vực gì cả.
Chữ “kiến tánh” cũng vậy, có nghĩa là chúng ta nhận nơi mình có tánh tri giác bất sanh bất diệt, nhận rõ không chút nghi ngờ. Đó gọi là kiến tánh, chớ không phải kiến tánh là thấy được tánh mình. Nhiều người không hiểu cứ nghĩ kiến tánh là thấy tánh mình, nếu tánh mình mà mình thấy thì vô lý. Nếu là tánh mình thì người ngoài thấy chớ mình không thấy, còn mình thấy là thấy tánh của người khác chớ không phải tánh mình.
Thế nên trong bài Ngài nói rất rõ:
Thấy tánh, không phải có tánh bị thấy. Nói thấy, là thấy chỗ không thể thấy mà thấy vậy. Nếu ai khéo thì có thể nhận ra cái không thể thấy mà thấy.
Cho nên nói thấy, thấy không phải thấy thì chân tánh hiện. Thấy mà không thể thấy, vì nó không phải là hình tướng, là sự vật, cho nên không thể thấy. Nhưng nhận được cái hiện hữu của nó không nghi ngờ, gọi đó là thấy.

Tánh thấy là vô sanh, sanh thấy thì chẳng phải có. Tánh thấy không sanh không diệt, nếu vừa khởi thấy nó thì cái đó không phải nó.
Chẳng có cái tánh thật, mà thấy thật không dời đổi, nhưng nhận ra cái thật đó, cái thật đó không có dời đổi, nó bất sanh bất diệt.
Thế nên gọi là chân thật thấy tánh. Chân thật thấy tánh là như vậy.
Sau khi thấy tánh, phải gìn giữ giới cho thanh tịnh. Khi nhận ra bản tánh rồi, mới nói tu. Cho nên khi dạy tu là dạy chung, có người nhận được bản tánh, có người chưa nhận được. Nhưng vì trong chúng làm việc gì cũng phải làm chung, lý đáng thì sau khi thấy tánh phải giữ giới cho thanh tịnh.
Thế nào là giới thanh tịnh? Nghĩa là trong mười hai giờ, ngoài dứt các duyên, trong tâm không loạn. Khi nhận được bản tánh rồi thì bên ngoài dứt các duyên, trong tâm không loạn động.
Vì tâm không loạn động nên cảnh đến vẫn an nhàn. Cảnh đến là cảnh gì? Vì tâm không loạn động, cho nên mắt thấy sắc đẹp, tai nghe tiếng khen tiếng chê mà chúng ta vẫn an nhàn. Tất cả những gì đến với mình, chúng ta đều không xao xuyến, đó gọi là cảnh đến vẫn an nhàn.
Mắt không vì cái sở duyên của thức mà chạy ra, thức không vì cái sở duyên của cảnh mà chun vào. Nó không chạy ra cũng không bị chun vào. Tôi nói thí dụ: Như có người mang chiếc đồng hồ quí đẹp đến khoe với chúng: “Tôi có chiếc đồng hồ đẹp.” Khi mắt nhìn thấy chiếc đồng hồ, thì chiếc đồng hồ là cảnh. Thức không vì mắt thấy đồng hồ mà chạy ra, đồng hồ không có chun vào con mắt, cho nên ở trong không chạy ra, ở ngoài không chun vào. Vì thế nhìn chiếc đồng hồ đẹp mà tâm vẫn an nhàn. Còn nếu có chạy ra chun vào thì tấm tắc khen chiếc đồng hồ đẹp quá, quí quá, nên khi người ta đem đồng hồ đi rồi, ngồi đây mà nhớ mãi chiếc đồng hồ, không biết mua nó bao nhiêu, giá trị nó như thế nào, vì vậy tâm bị xao động bất an. Nếu như chiếc đồng hồ quí để trước mắt, mà thức không theo con mắt để duyên với đồng hồ, đồng hồ cũng không theo chỗ hở của con mắt mà chun vào, trong không ra, ngoài không vào thì tâm an nhiên nhàn hạ. Bây giờ thử hỏi tất cả quí vị khi gặp cảnh đó, có ra có vào hay không? Cho nên không có đeo đồng hồ là cái duyên để chúng ta dễ tu. Đồng hồ đẹp đồng hồ xấu gì cũng mặc, chỉ thấy thôi, không có ra không có vào. Còn nếu đeo đồng hồ thì so sánh đồng hồ này đẹp, đồng hồ kia xấu, tức là có ra có vào. Vì thế không mang đồng hồ thì không dính kẹt trong đồng hồ tốt xấu, giá trị đồng hồ cao thấp v.v… cho nên thức không vì con mắt mà chạy ra, cái đồng hồ vì chúng ta không lưu tâm, nên cũng không có chỗ chen vào. Ra vào không có, cho nên đồng hồ để trướùc mắt mà tâm vẫn thản nhiên, không có gì dính dáng. Đó là kết quả của sự tu.
Ra vào không giao thiệp nên gọi là ngăn chận. Tuy nói ngăn chận mà không phải ngăn chận. Thật ra đâu có gì ngăn chận. Trước cảnh chỉ thản nhiên thôi, chớ có ngăn chận chi đâu.
Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như thế. Từ mắt rồi nghiệm qua tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như thế. Tức là sáu căn đối với sáu trần, không có chạy ra không có chun vào…
Đó gọi là giới Đại thừa, là giới vô thượng cũng gọi là giới vô đẳng đẳng. Tịnh giới này, dù Tiểu tăng cho đến bậc Đại tăng đều phải gìn giữ.
Giới này Tiểu tăng hay Đại tăng cũng đều phải giữ. Giới Đại thừa hay giới vô thượng tức là giới không gì hơn, vô đẳng đẳng là không có gì sánh bằng, đây là chỉ cho giới cao tột, giới tuyệt đỉnh. Trong tam học giới định tuệ, giới là đầu. Đối với người tu thiền, giới là ở chỗ sáu căn đối với sáu trần không cho chạy ra, không cho chun vào. Tức là giữ sáu căn không bị thức duyên ra, cảnh chui vào, đó gọi là giới Đại thừa, giới vô thượng, giới vô đẳng đẳng, không còn gì hơn, không có gì sánh bằng. Vậy người biết tu thì phải giữ giới đó hằng ngày.
Nhân giữ giới vững chắc không động, giới này là thượng thừa, là vô đẳng đẳng nhưng khó giữ, cho nên mỗi tối chúng ta đều sám hối. Sám hối sáu căn cho thuần thục, như mắt vừa thấy sắc đẹp liền nhớ sám hối về mắt, tai nghe lời gì hơi trái hơi khó chịu thì nhớ sám hối về tai. Như thế sám hối cho đến thuần thục, ngăn chận không cho trong chạy ra ngoài chạy vào, đó là giới thanh tịnh, là giới của người tu Thượng thừa.
Kế đó mới tập thiền. Cái yếu chỉ của thiền định là thân tâm đều xả. Yếu chỉ của thiền là thân tâm đều xả. Xả tâm là vừa dấy niệm liền buông. Còn xả thân là sao? Không phải là bỏ thân này, là hủy hoại cho nó chết, đừng hiểu lầm như vậy. Xả thân có nghĩa là xả tất cả những nhu cầu mà thân đòi hỏi quá đáng, phải xả những thụ hưởng đừng cho thân đắm trước. Phải thấy thân là tạm bợ, giả dối, đừng có luyến ái mà cố giữ gìn cho được sống lâu, trái lại phải dùng nó trong những điều lợi ích cho đạo, lợi ích cho chúng sanh, như vậy gọi là xả thân.
Trước tập định tâm, thường tự suy xét: thân này từ đâu mà đến? Tâm này từ đâu mà có? Muốn định tâm, chúng ta phải tự đặt câu hỏi như vậy để phân tích tìm cho ra manh mối về thân này và tâm này. Đến đây Ngài mới giải thích:
Tâm không thật có, thì từ đâu có thân?
Khi chúng ta đặt câu hỏi: Tâm này từ đâu mà có? Tâm đây là chỉ tâm vọng tưởng, chúng ta tìm xem tâm vọng tưởng từ đâu mà có, tìm cho kỹ thì tâm vọng tưởng không có.
Nghĩa là tìm cho đến nơi đến chốn thì nó là không, nên nói Tâm không thật có, thì từ đâu có thân? Vì con người sống là có thân và tâm, thân là hình thức vật chất, tâm là phần tinh thần, phần hiểu biết. Phần tinh thần hiểu biết tìm cho tận cùng thì nó không có hình thức, không có chỗ nơi, tức là không thật có. Tâm đã không thật có, thì thân vật chất này thật có được chăng? Nếu tìm cho kỹ thì thân vật chất này cũng không thật. Thế nên:
Thân tâm đều không thì pháp từ đâu mà có.
Trước là quán tâm cho kỹ thì biết tâm không thật, kế là quán thân cho tường tận thì thấy thân không thật, đúng là “chiếu kiến ngũ uẩn giai không”, ngũ uẩn là chỉ cho thân và tâm, nếu thấy không thật thì sự vật bên ngoài tức là các pháp, có thật hay không? Thân tâm không thật thì cái bàn này do thân tâm tạo nên có thật không? Thân tâm không thật thì cái bàn cũng không thật. Hay nói một cách gọn hơn, dễ hiểu hơn: Thân do duyên hợp, tâm do duyên hợp đều không thật, thì sự vật bên ngoài do duyên hợp cũng đều không thật.
Thường thấy như vậy là có tu rồi! Sở dĩ ngày nay chúng ta tu khó nhọc, không có kết quả, là vì thấy thân thật, tâm thật, cảnh thật. Cứ như thế mà khổ sở, buồn khóc, sám hối, cũng vì những cái thấy thật đó. Nếu thấy thân, tâm, cảnh đều không thật thì đâu còn gì phải bận bịu dính mắc!
Pháp không thật có. vì không có cái có, thì cái có có đó từ đâu mà có? Pháp tức là sự vật, không thật có. Thí dụ chúng ta nói cái bàn cái nhà không thật có, kể cả núi sông cũng không thật có, như vậy tất cả những gì người ta nói có có đó xét kỹ đều không thật có. Vì không thật có thì cái có có đó từ đâu mà có? Đều là duyên hợp, đều không thật.

Cái có có đó đã không, thì không có pháp có. Vì cái có mà mình thấy trước mắt đều không thật, thì không có pháp có. Như vậy các pháp thế gian nói có đều là không thật có, không có pháp nào là thật có cả.
Mỗi pháp chẳng phải pháp, thì mỗi pháp nương vào đâu? Mỗi pháp, mỗi vật đã không thật, thì nương vào đâu mà gọi là có cái này, có cái kia?
Không có chỗ dựa nương thì pháp không phải mỗi pháp. Vì không có chỗ nương thật, nên mỗi sự vật đều là không thật, không có cái gì gọi là thật hết. Tỉ dụ đây là quyển sách, kia là cái đồng hồ, mỗi pháp đều không có chỗ nương thì mỗi pháp đều là không thật. Cho nên pháp không phải mỗi pháp nghĩa là tất cả sự vật hiện thấy hiện biết đều không có cái gì thật.
Pháp này không thật thì cũng chẳng phải không thật. Sự vật hiện hữu là không thật, nhưng cũng chẳng phải không thật, tại sao? Đứng về giả tướng duyên hợp thì các pháp là không thật, nhưng thật tánh hay tánh không của tất cả pháp đâu phải là không? Thế nên:
Chứng được thật pháp mới hay chứng nhập thiền. Tất cả pháp là không, không thật, duyên hợp hư giả, tánh nó là không. Thấy được tánh không đó rồi, mới đi tới chỗ chứng nhập thiền. Chúng tôi thường nhắc lại nhiều lần câu nói của Thiền sư Duy Tín đời Tống, Ngài nói: “Ba mươi năm trước, khi chưa gặp thiện tri thức, tôi thấy núi sông là núi sông”, tức là thấy núi là thật, thấy sông là thật. “Sau khi gặp thiện tri thức chỉ dạy, tôi thấy núi sông không phải là núi sông.” Đó là pháp không phải pháp, nghĩa là thấy các pháp không thật có, duyên hợp hư giả, tự tánh là không, tức là đạt được tánh không của tất cả pháp. “Nay ba mươi năm sau, tôi thấy núi sông là núi sông.” Tức là tâm không còn so đo nghĩ tính, pháp này là có, pháp kia là không, pháp này đẹp, pháp kia xấu, tâm hoàn toàn thanh tịnh, đó là nhập thiền. Phải ba mươi năm tâm thuần thục rồi mới nhập thiền chớ không phải năm tháng, bảy tháng, hay ba năm, năm năm là được.
Chúng ta tu đến khi nhìn thấy các sự vật đều không có tự tánh, tánh nó là không, duyên hợp hư giả, thì chúng ta không còn bận tâm với các pháp nữa. Thế nên phải thâm nhập lý Bát-nhã rồi mới nhập được thiền, vì thiền là “đối cảnh vô tâm”, tức là “không ra không vào”. Vì các sự vật duyên hợp hư dối, không còn hấp dẫn mình được, nên mới “không ra không vào”. Giả sử hiện nay có người đi xa mang về một món đồ thật quí như chiếc đồng hồ đẹp, khoe với chúng, mọi người nhìn thấy cười thôi, không bàn tán gì cả, thì khả dĩ thấm mùi thiền. Còn nếu thấy món đồ quí đẹp liền xúm lại xem, rồi bàn tán xôn xao, đó là chưa nhập được thiền.
Người tu phải cẩn thận, muốn bước vào cảnh giới thiền, trước phải thấu suốt lý Bát-nhã, thấy rõ thân, tâm và cảnh cả ba đều không thật. Dù có ai chê mình đen xấu, hay khen mình trắng đẹp cũng chỉ là giả tướng, đâu có gì quan trọng, thấy rõ như vậy thì lời khen chê không làm động lòng mình. Đối với cảnh đẹp cảnh xấu mình cũng không động, vì cảnh đâu có thật. Đến tâm chúng ta cũng vậy. Nói người khôn kẻ dại cũng là thừa, vì khôn dại đều là vọng, không có gì quan trọng. Khi biết thân, tâm và cảnh không thật thì không còn chấp, không còn dính mắc, đó là thiền. Thật đúng với câu ngài Điều Ngự Giác Hoàng nói: “Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.” Đối cảnh không tâm dính mắc là đã nhập thiền rồi, còn hỏi thiền chi nữa. Người tu nào đối cảnh vô tâm thì được phép không ngồi thiền, còn chưa được thì phải tinh tấn tăng giờ.
Việc tu thật đơn giản, làm sao cả ngày đối với thân mình, ai chê ai khen gì cũng không dính, ai lý luận nói mình ngu dốt cũng không buồn bực, cái gì đẹp xấu đến trước mắt mình cũng chẳng bận lòng. Được như vậy cả ngày tới lui tự do, không cần ngồi thiền, không phải thỉnh nguyện gì nữa. Thật nhàn làm sao! Thầy làm việc của thầy, trò làm việc của trò, không ai bận bịu đến ai, thảnh thơi vô cùng. Đây là chủ trương của ngài Điều Ngự Giác Hoàng. Đối cảnh không tâm, đó là nhập thiền rồi, đừng hỏi thiền chi nữa.
Người tu tập thiền định không được chấp dụng công, dụng công mà không có chỗ dụng, gọi là Thiền thượng thừa.
Người tu thiền không được chấp dụng công. Nếu khi đi cứ một bề ngó xuống, không cho ai đối diện với mình, thấy ai cũng tránh né, đó là chấp dụng công, chưa phải là thật thiền. Thiền mà không thấy mình tu gì cả, chỉ thấy người, thấy cảnh, thấy vật, tâm không dính mắc là được rồi. Nếu không muốn thấy là còn sợ dính, phải không? Thí dụ như tay mình có keo có nhựa thì cầm cây viết dính cây viết, cầm cục phấn dính cục phấn, cầm vật nào dính vật nấy, cho nên mới sợ dính. Còn nếu tay mình không có keo nhựa thì tha hồ cầm các vật, có dính gì đâu! Cho nên chấp dụng công là còn đang dính. Vì thế khi Lục Tổ thấy ai ngồi thiền Ngài đến nắm lỗ tai Ngài thổi. Lẽ ra vị nào, ngoài giờ ngồi thiền công cộng của chúng, còn ngồi thêm ở hành lang hay ở gốc cây, phải được khen là tinh tấn. Còn Lục Tổ tại sao lại nắm lỗ tai thổi không cho ngồi? Vì Ngài thấy nếu tâm của mình không dính với cảnh thì cần gì phải ngồi chỗ này hay chỗ kia. Hiện nay trong chúng có nhiều người ngoài giờ công tác hay tìm chỗ vắng tránh huynh đệ ngồi một mình cho tâm thanh tịnh, cũng là hay. Thật ra nếu trước mặt trăm người mà mình không dính thì ở trong chúng vẫn thanh tịnh. Còn nếu ngồi một mình dưới gốc cây mà cứ nhớ huynh này huynh kia nói những câu gì đó, tức là có dính. Như vậy trọng tâm của việc tu là đừng dính mắc, còn lựa chỗ để ngồi thiền chỉ là phần phụ thôi. Điều quan trọng là phải nhớ gạn lọc cho nội tâm được trong sáng.
Vậy thiền định là không chấp dụng công, dụng công mà không có chỗ dụng gọi là Thiền thượng thừa. Dụng công mà không chỗ dụng tức là không cho tâm dính mắc, nhưng thấy vẫn thấy, nghe vẫn nghe mà không dính mắc, đó là Thiền thượng thừa.
Ngoài tham thoại đầu không cho gián đoạn, miên mật liên tục không có kẽ hở, cũng không điên đảo, không trạo cử cũng không hôn trầm. Phải trong sáng như viên ngọc lăn trên mâm, phải sáng suốt như gương trên đài. Đến chỗ đất này, đi cũng được, đứng cũng được, ngồi cũng được, nằm cũng được, nói hay nín đều cũng đuợc, có chỗ nào lại không được?
Theo cái nhìn của ngài Pháp Loa, ngoài lối tu Thượng thừa thiền ở trên, muốn cho được miên mật thì ứng dụng phương tiện phụ là tham thoại đầu, cốt làm sao cho mình được luôn luôn trong sáng như viên ngọc lăn trên mâm, dù lăn mặt nào cũng là sáng cả.
Cũng như gương trên đài lúc nào cũng sáng. Đến chỗ đó thì đi đứng nằm ngồi đều tự tại.
Chúng tôi xin nhắc lại cho tất cả quí vị nhớ, nếu chúng ta nắm được trọng tâm tu thiền, thì trên đường tu chúng ta không có gì nghi ngờ cả. Trong kinh Pháp Bảo Đàn, phẩm Bát-nhã, Lục Tổ nói người tu thiền phải thông suốt lý Bát-nhã. Nhờ trí tuệ Bát-nhã chúng ta phá được ba cái chấp: chấp tâm, chấp thân và chấp cảnh. Tâm, thân và cảnh đều không chấp, thì tâm mới không chạy ra, không dính mắc với ngoại cảnh. Nếu còn chấp một cái nào đều là dính hết. Thế nên khi chúng ta phá được cái chấp đó rồi thì chúng ta ứng dụng tu “đối cảnh vô tâm”, như vậy lúc nào cũng là thiền. Song hiện giờ chúng ta chưa phá được chấp, nên phải ngồi, niệm dấy lên biết là hư dối, đó là phá chấp tâm trước.
Thấy tâm không thật thì mới thấy thân cũng hư dối không thật. Thấy tâm thấy thân hư dối rồi tiếp tục thấy cảnh cũng hư dối. Nếu chúng ta chưa có thể thực hiện một lượt ba phần thì đầu tiên chúng ta thực hiện một phần, phần tâm là đi đầu. Ở đây Ngài cũng dạy quán tâm trước, kế quán thân rồi quán cảnh. Quán thứ tự như vậy để quí vị thực hành cho có kết quả từng bước chắc chắn, chớ không phải chỉ có bấy nhiêu đó thôi.
Phá chấp tâm là gốc, nếu tâm dấy lên biết nó hư dối không theo, thì từ từ chúng ta buông được những cái chấp khác dễ dàng. Nếu chúng ta quán thân giả dối mà tâm cứ nghĩ là thật thì cũng còn chấp khá nặng. Vì vậy chúng ta đi từ bước đầu thấy tâm không thật, cho nên chữ vọng tưởng có nghĩa vọng là hư dối, tưởng là tưởng tượng, tất cả niệm tưởng đều hư dối, hư dối tức không thật, không thật tức là không. Bước đầu quí vị tu cho thuần thục, rồi sẽ tới những bước sau.
Đã được thế rồi, về sau mới nêu lên những câu ngộ: Tam quan, tam huyền, tam yếu, ngũ vị, tứ liệu giản, tứ tân chủ, tứ chiếu dụng v.v… các cơ quan của Thiền Tổ. Bảy phen soi, tám phen dùi, nhồi đi ép lại, thấu triệt chân nguyên. Chừng đó, mới hay mượn pháp tòa của Phật Đăng Vương, nắm sừng thỏ, nhổ lông rùa, tay hoa một phen chuyển, bốn chúng thảy mịt mờ. Phát sanh vô thượng diệu tuệ, chiếu soi không cùng. Đối với tứ vô lượng tâm, tứ niệm xứ, tứ vô úy, bát chánh đạo, thập lực của Phật, mười tám pháp bất cộng, cho đến tám muôn bốn ngàn môn đà-la-ni, trần trần sát sát, tất cả môn tam-muội đều từ nơi mình lưu xuất mỗi mỗi đều đầy đủ.
Đoạn trên Ngài nói về Giới và Thiền định, đến đây là phần Tuệ. Nói về tuệ Ngài dẫn những danh từ trong nhà thiền rất khó hiểu nào là tam quan, tam huyền, tam yếu, ngũ vị, tứ liệu giản, tứ tân chủ, tứ chiếu dụng v.v… các cơ quan của Thiền Tổ. Chúng tôi sẽ lần lượt giải thích cho quí vị rõ.
Tam quan là ba cửa hay ba cổng mình phải qua khỏi. Tam quan có chỗ nói là: Tổ sư quan, lao quan và trùng quan.
Tam quan cũng có nghĩa khác, theo Thiền sư Huệ Nam ở Hoàng Long, Ngài dùng tam quan hay ba cổng để hỏi.
Quan thứ nhất: Ai cũng có sanh duyên, vậy sanh duyên của Thượng tọa ở đâu?
Quan thứ hai: Tay tôi sao giống tay Phật?
Quan thứ ba: Chân tôi sao giống chân lừa?
Ba câu hỏi đó, ai trả lời thế nào cũng mặc, Ngài không để ý, không nói đúng, không nói sai. Có nhiều người thắc mắc hỏi lại: “Thưa Ngài, Ngài hỏi, chúng con đáp, đúng hay sai Ngài dạy cho chúng con biết, vì sao Ngài lại làm thinh?” Ngài trả lời rằng: “Nếu anh muốn qua cổng, khi qua khỏi cổng rồi, anh có cần hỏi người gác cổng không? Nếu còn hỏi người gác cổng, là anh chưa qua khỏi cổng. Vì vậy nên ta làm thinh không trả lời.” Sau này người ta gọi là tam quan của ngài Huệ Nam.
Còn Tam huyền Tam yếu là của ngài Lâm Tế. Ngài thường nói: “Một câu nói phải đủ tam huyền tam yếu”, nhưng Ngài không có giải thích thế nào là tam huyền tam yếu.
Nếu có giải thích chăng là do người sau, chớ Tổ Lâm Tế không có giải, cho nên điều đó khó mà phân minh.
Rồi đến Ngũ vị, trong tông Lâm Tế nói khác và tông Tào Động nói khác. Ngũ vị trong tông Tào Động gồm có:
Vị thứ nhất: Chánh trung thiên
Vị thứ hai: Thiên trung chánh
Vị thứ ba: Chánh trung lai
Vị thứ tư: Thiên trung chí
Vị thứ năm: Kiêm trung đáo
Ngũ vị được giải thích rõ ở chương ngài Động Sơn Lương Giới, trong quyển Thiền sư Trung Hoa tập II.
Đến phần Tứ liệu giản (chọn lựa bốn điều) của tông Lâm Tế, gồm có:
Thứ nhất: Đoạt nhân bất đoạt cảnh, nghĩa là dẹp người mà không dẹp cảnh. Người ở đây là chỉ cho nội tâm, người tu chỉ một bề hướng về nội tâm mà dẹp. Thí dụ như hiện giờ chúng ta tu vừa thấy vọng tưởng dấy lên liền buông xả, đó thuộc về đoạt nhân bất đoạt cảnh, không cần dẹp ở bên ngoài.
Thứ hai: Đoạt cảnh bất đoạt nhân, tức là dẹp cảnh mà không dẹp người, không có nhìn vào trong mà nhìn các pháp ở bên ngoài. Thấy người, thấy vật đều biết nó là hư dối không có thật, đó là đoạt cảnh. Nếu thấy cảnh không thật thì trong tâm không chạy theo.
Đây là đoạt cảnh mà không đoạt nhân.
Thứ ba: Nhân cảnh câu đoạt, tức là ở trong thì dẹp tâm, ở ngoài thì dẹp cảnh, tâm cảnh đều phá.
Thứ tư: Nhân cảnh câu bất đoạt. Tất cả sự tu hành của mình đến đây coi như đã được an nhiên tự tại, cảnh là cảnh, tâm là tâm, không còn dính kẹt nữa, cho nên cả hai đều không đoạt.

Kế đó là Tứ tân chủ, tông Lâm Tế và tông Tào Động đều có nói. Trong tông Lâm Tế, tân là khách đến tham vấn, chủ là vị thầy, vị sư để cho người tham vấn. Tứ tân chủ gồm có:
1. Tân khán chủ là người khách xem xét thấy rõ ông chủ.
2. Chủ khán tân là người chủ thấy tường tận được kẻ khách.
3. Chủ khán chủ là người chủ nhìn lại thấu suốt nơi mình.
4. Tân khán tân là người khách nhìn rõ ràng về họ.
Phần giải thích, tôi có nói kỹ trong quyển Thiền sư Trung Hoa nên ở đây chỉ nói đơn lược thôi.
Tứ chiếu dụng cũng thuộc về tông Lâm Tế. Chữ chiếu là nói về người nhận thức, về chủ thể, còn chữ dụng là cái áp dụng bên ngoài, thuộc về khách thể. Chủ thể, khách thể soi chiếu cho nhau nên gọi là chiếu dụng. Trong chiếu dụng có chia ra:
1. Trước chiếu, sau dụng.
2. Trước dụng, sau chiếu.
3. Chiếu dụng đồng thời.
4. Chiếu dụng bất đồng thời.
Nếu giải ra thì rất dài, nên chúng tôi chỉ kể tên thôi, chớ không thể giải hết được.
Phần nhiều ở các nơi giải thích mỗi chỗ có sai biệt nhau chút ít, nên sau này nếu có dịp tra khảo lại quí vị sẽ thấy rõ hơn.
Bảy phen soi, tám phen dùi, nhồi đi ép lại, thấu triệt chân nguyên. Người tu thiền khi nắm được những cơ quan Thiền Tổ thì phải chịu khó soi cho phủng, dùi cho thấu và xét tới xét lui, đây gọi là nhồi đi ép lại để thấu triệt nguồn chân.
Chừng đó mới hay mượn pháp tòa của Phật Đăng Vương. Mượn pháp tòa của Phật Đăng Vương xuất xứ từ kinh Duy-ma-cật, quyển trung, phẩm Bất Tư Nghì, trong đó có kể ngài Duy-ma-cật ở trong thất nhỏ, có chư Bồ-tát, chư A-la-hán đến thăm rất đông.
Ngài mới đưa tay lên cõi Phật Tu-di Đăng Vương ở thế giới Tu-di Tướng phương Đông mượn các tòa đem về cho chư vị Bồ-tát ngồi. Các tòa của Phật Tu-di Đăng Vương để gần đầy cả bầu hư không, thế mà Ngài mượn các tòa trên đó đem về trong thất nhỏ xíu để mời các vị Bồ-tát ngồi. Đó là để nói lên ý nghĩa khi người tu đạt đến chỗ viên mãn cứu kính thì lớn nhỏ dung hợp nhau, không có gì chướng ngại.

Nắm sừng thỏ, nhổ lông rùa. Sừng thỏ, lông rùa, có hay không? Những cái không biến thành có, những cái có biến thành không, có không đều không chướng ngại nhau.
Cho nên khi được diệu dụng rồi thì tất cả lớn nhỏ, có không đều không chướng ngại.
Tay hoa một phen chuyển, bốn chúng thảy mịt mờ. Tay của các ngài một phen xoay chuyển thì tất cả mọi người trong bốn chúng đều không thể hiểu nổi, không thể thấu được ý nghĩa thâm trầm của các ngài. Đó là để diễn tả người tu thiền khi thấu suốt được các ý nghĩa cao siêu của chư Tổ thì sẽ có những diệu dụng không thể lường được. Những diệu dụng đó từ một hành động, từ một lời nói, đều chỉ ra chỗ chân thật mà mọi người ít ai hiểu, ít ai thấu suốt. Cho nên nói:
Phát sanh vô thượng diệu tuệ, chiếu soi không cùng. Lúc đó trí tuệ vô thượng sẽ phát sanh, chiếu soi cùng khắp.
Đối với tứ vô lượng tâm, tứ niệm xứ, tứ vô úy, bát chánh đạo, thập lực của Phật, mười tám pháp bất cộng, cho đến tám muôn bốn ngàn môn Đà-la-ni, trần trần sát sát, tất cả môn tam-muội đều từ nơi mình lưu xuất mỗi mỗi đều đầy đủ. Người đạt đạo rồi thì tất cả pháp của Phật dạy đều có thể được viên mãn, cho nên nói lời gì, làm việc gì đều không ngoài pháp của Phật, và tất cả pháp của Phật dạy đều nằm trong cái thấy, cái biết, cái trình bày của chính mình, không có ra ngoài. Thế nên cái gì Phật có là mình cũng sẽ có, cái gì mình có tức là Phật đã có. Như vậy để nói pháp Phật và pháp của người ngộ đạo nói ra không hai.
Về các từ ngữ chúng tôi sẽ giải thích tên cho quí vị rõ. Tứ vô lượng tâm là: từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỉ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm. Người tu chắc rằng ai cũng có tâm từ bi hỉ xả, nhưng có tâm từ bi hỉ xả vô lượng thì không phải dễ. Vì chúng ta mới tập tu hoặc là tập mà chưa có thuần, cho nên lòng từ bi hỉ xả chỉ có trong giới hạn, chớ chưa có trong vô lượng. Khi nào tâm từ bi hỉ xả được vô lượng thì được ngang với Bồ-tát, cho nên nói Tứ vô lượng tâm là tâm của Bồ-tát.
Kế đến là Tứ niệm xứ. Tại sao gọi là Tứ niệm xứ? Xứ là chỗ, niệm là chuyên nhớ, tức là bốn chỗ mình phải nhớ. Về pháp quán, Nhị thừa luôn luôn lấy Tứ niệm xứ làm đề tài thiền quán.
Thứ nhất là quán thân bất tịnh.
Tức là quán thân này là nhơ nhớp bất tịnh. Người tu phải luôn luôn chuyên tâm nhớ thân này là nhơ nhớp bất tịnh, đó là nhớ đúng lẽ thật. Vì chúng ta điên đảo tưởng thân là tịnh, cho nên bắt buộc chúng ta phải nhớ cho đúng lẽ thật, thân nhơ nhớp bất tịnh thì biết là thân nhơ nhớp bất tịnh. Nếu thân mình bất tịnh thì thân người khác cũng bất tịnh. Hằng nhớ như vậy thì dứt được bệnh luyến ái về thân, thân mình và thân người.
Thứ hai là quán thọ thị khổ.
Thọ tức là tất cả cảm giác của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình. Hằng quán tất cả cảm giác đều là khổ. Nhưng trong kinh nói thọ chia ra ba thứ: khổ thọ, lạc thọ, bất khổ bất lạc thọ, tức là cảm giác vui, cảm giác khổ, cảm giác không vui không khổ.
Thí dụ cảm giác của lưỡi, khi chúng ta để thức ăn ngon vào lưỡi thì có cảm giác vui, còn để thức ăn quá đắng vào lưỡi thì có cảm giác khổ. Nếu bưng ly nước lã uống thì cảm giác không khổ không vui, nước lã không thích, cũng không không thích, trừ ra khi nào khát. Lẽ ra cảm giác có khi khổ khi vui, vì sao ở đây chỉ dạy chúng ta phải quán thọ là khổ, cảm giác là khổ? Cảm giác dù là vui, nhưng mọi cảm giác đều vô thường, qua rồi mất. Cái gì bị vô thường chi phối đều là khổ. Tại sao vậy? Vì cảm giác vui thì mình muốn giữ, mà nó qua mất cho nên khổ. Còn cảm giác khổ, muốn qua cho nhanh mà cứ nhớ hoài. Tỉ dụ như uống một chén thuốc bắc vừa hôi vừa đắng, cảm giác khi uống là khổ, cho nên muốn uống cho mau. Uống qua rồi mà vị đắng vẫn chưa hết! Muốn qua mau, lại nhớ lâu, cho nên cũng khổ. Thọ vui rồi mất, thọ khổ lại kéo dài, cho nên tất cả thọ dù khổ, dù vui hay không khổ không vui, Phật đều kết luận là khổ. Nếu mọi cảm giác đều là khổ thì chúng ta có thích cảm giác vui, chán cảm giác khổ hay không? Vì biết cảm giác nào cũng là gốc khổ, nên chúng ta không tìm không thích. Đó gọi là quán thọ thị khổ.
Thứ ba là quán tâm vô thường.
Tâm vô thường là những tâm niệm của mình, giờ phút này nó nghĩ khác, giờ phút sau nó nghĩ khác, luôn luôn chạy nhảy không dừng giống như khỉ vượn. Vì tâm là vô thường, làm sao tin được nó. Thế mà có nhiều người nói tâm tôi tốt lắm, có nên tin lời đó không? Khi gặp cảnh tốt thì nó tốt, gặp cảnh xấu chưa chắc nó tốt. Thí dụ gặp ai khen mình, lúc đó chúng ta rất tốt, rất vui mừng. Nếu gặp ai chửi mình, chúng ta còn tốt không?
Lúc đó tâm sân hận nổi lên ngay, làm sao tốt được!
Như vậy tâm chúng ta không cố định là tốt hay xấu, luôn luôn nó chuyển biến theo cảnh bên ngoài. Người đời không biết nên cứ nuôi dưỡng tâm vô thường cho nó là hay là quí. Người tu biết nên dùng chữ vọng hay huyễn để chỉ nó, và không theo nó. Trong kinh Phật có dạy: “Chừng nào chứng A-la-hán, các ông mới nên tin tâm mình.” Còn chưa chứng A-la-hán, thì không tin nó được. Vậy mà có nhiều người nói tâm tôi cứng cỏi không sợ. Cứng cỏi không sợ là vì người ta yếu hơn mình, còn nếu người mạnh hơn thì mình thua ngay. Thế nên ai tin tâm mình là giống như tin kẻ trộm cướp, thế nào cũng bị nó gạt. Vậy phải luôn quán tâm là vô thường, không đáng tin.
Thứ tư là quán pháp vô ngã.
Tất cả pháp chia làm hai loại: Một là pháp ở nội tâm, gọi là tâm sở pháp, hai là pháp ở bên ngoài gọi là các pháp. Tất cả pháp dù ở nội tâm hay ở bên ngoài đều là duyên hợp, không có thực thể, nên gọi là vô ngã.
Bốn pháp quán này là pháp tu của Nhị thừa, gọi là quán Tứ niệm xứ.
Đến đây chúng tôi nói về Bát chánh đạo, đây là pháp tu của Nhị thừa, là căn bản của Phật pháp. Chư Tăng Ni đi thọ giới thường được hỏi về ba mươi bảy phẩm trợ đạo, trong đó Bát chánh đạo là gốc, gồm có:
1. Chánh kiến, 2. Chánh tư duy, 3. Chánh ngữ, 4. Chánh nghiệp, 5. Chánh mạng, 6. Chánh tinh tấn, 7. Chánh niệm, 8. Chánh định.
Trong Bát chánh đạo tuy không nói về tuệ, nhưng chánh kiến thuộc về tuệ rồi, còn chánh niệm chánh định thuộc về định. Vậy Bát chánh đạo là nền tảng của người tu Phật, chúng ta phải nắm cho thật vững, đó là con đường đi không thể quên được.
Tứ vô úy cũng gọi là Tứ vô sở úy, tức là bốn đức chẳng sợ, đây nói về bốn đức chẳng sợ của Phật, gồm có:
1. Có trí biết tất cả, nên chẳng sợ chi hết.
2. Dứt hết các phiền não, nên chẳng sợ chi hết.
3. Giải thuyết chỉ chỗ ngăn hại đạo, nên chẳng sợ chi hết.
4. Giảng thuyết dạy dứt hết các khổ, nên chẳng sợ chi hết.
Bốn đức này của Phật, người tu cần phải biết.
Thập lực của Phật gồm có:
1. Biết rõ nhân duyên quả báo trong mọi trường hợp.
2. Biết rõ nghiệp nhân nghiệp quả của mọi chúng sanh quá khứ, hiện tại, vị lai.
3. Biết rõ tất cả mọi cấp thiền định cạn sâu hướng đến giải thoát.
4. Biết rõ căn tánh hơn kém và quả báo nặng nhẹ của mọi chúng sanh.
5. Biết rõ những việc thiện ác và các dục vọng khác nhau của mọi chúng sanh.
6. Biết rõ hoàn cảnh, tình huống khác nhau của mọi chúng sanh.
7. Biết rõ sự vận hành các qui luật thiện ác.
8. Biết rõ các đời sống quá khứ.
9. Biết rõ các đời sống vị lai.
10. Biết rõ các lậu hoặc đã dứt sạch.
Về mười tám pháp bất cộng của Phật, trong Đại Phẩm Bát-nhã có nói:
1. Thân không lầm lỗi.
2. Miệng không lầm lỗi.
3. Niệm không lầm lỗi.
Thân, miệng và niệm của Phật không bao giờ lầm lỗi. Trái lại thân miệng và ý niệm của chúng ta thường lầm lỗi, cho nên chúng ta phải tu thật lâu mới có thể sạch được phần nào.
4. Bình đẳng cứu độ tất cả chúng sanh.
5. Tâm luôn luôn ở trong thiền định.
6. Tâm luôn luôn vắng lặng, an tịnh trước mọi cảnh khổ vui.
7. Tâm mong muốn cứu độ chúng sanh không nhàm chán.
8. Luôn luôn tinh tấn trong mục đích độ sanh.
9. Đầy đủ niệm lực.
10. Đầy đủ trí tuệ.
11. Đầy đủ giải thoát.
12. Đầy đủ giải thoát tri kiến.
13. Thân nghiệp luôn sống theo trí tuệ.
14. Khẩu nghiệp luôn sống theo trí tuệ.
15. Ý nghiệp luôn sống theo trí tuệ.
16. Biết rõ các đời sống quá khứ.
17. Biết rõ các đời sống vị lai.
18. Biết rõ hiện tại đã dứt sạch các lậu hoặc.
Mười tám pháp này gọi là Thập bát bất cộng vì chỉ đức Phật biết, còn tất cả chúng ta chưa ai biết được, cho nên không có cọng, không có chung.
Cho đến tám muôn bốn ngàn môn Đà-la-ni, Đa-la-ni là thần chú, tức là tám muôn bốn ngàn pháp thần chú. Tại sao Phật nói nhiều thần chú như vậy? Vì Phật đã ngộ đã chứng nên những điều Phật nói hay Phật làm, đều là cứu khổ độ sanh, giống như thần chú có diệu dụng làm cho người hết khổ, thế nên nói tám muôn bốn ngàn môn thần chú Đàla-ni.
Trần trần sát sát, trần là bụi, sát là cõi nước.
Tất cả môn tam-muội đều từ nơi mình lưu xuất, mỗi mỗi đều đầy đủ. Tam-muội là chánh định. Dù cho bao nhiêu hạt bụi, bao nhiêu cõi nước, tất cả môn tam-muội đều từ chỗ giác ngộ của mình mà xuất hiện đầy đủ không có thiếu sót. Khi chúng ta tu đầy đủ diệu dụng, thì tất cả diệu dụng của Phật, từ từ chúng ta cũng sẽ có.
Tuệ đã đầy đủ, ban cho chúng sanh, nguyện lực không cùng tận, tự giác giác tha, tứ sanh và cửu loại, tất cả đều được thấm nhuần. Nếu tuệ mà không định gọi là càn tuệ (tuệ khô), định mà không tuệ gọi là si thiền.
Ở đây Ngài dạy cho chúng ta thấy rõ nếu chúng ta tu được định rồi phát tuệ thì định và tuệ hỗ tương nhau, nên chúng ta mới làm được những việc lợi ích cho chúng sanh, nào là ban cho chúng sanh những nguyện lực không cùng tận, nào là chúng ta tự giác rồi giác ngộ cho người, tứ sanh và cửu loại tất cả đều được thấm nhuần. Tứ sanh là thai sanh, noãn sanh, thấp sanh và hóa sanh. Cửu loại tức là chín loài, gồm có:
1. Loài sanh bằng trứng.
2. Loài sanh bằng thai.
3. Loài sanh từ nơi ẩm thấp.
4. Loài sanh bằng biến hóa.
5. Loài sanh có sắc.
6. Loài sanh không có sắc.
7. Loài sanh có tưởng.
8. Loài sanh không có tưởng.
9. Loài sanh không có tưởng, cũng không phải không có tưởng, tức là phi phi tưởng.
Nếu tuệ mà không định gọi là càn tuệ (tuệ khô), định mà không tuệ gọi là si thiền.
Nếu chúng ta tu mà chỉ dùng trí tuệ quán chiếu, tâm không an định thì gọi là càn tuệ tức tuệ khô. Còn nếu thiền định yên lặng mà không có trí tuệ gọi là si thiền, tức là tu thiền mà không sáng suốt.
Thiền có chia làm năm: 1. Phàm phu thiền, 2. Ngoại đạo thiền, 3. Tiểu thừa thiền, 4. Đại thừa thiền, 5. Thượng thừa thiền.
Đây là nói theo nhận định của ngài Tông Mật. Năm loại thiền này chúng tôi đã giảng trong cuốn Nguồn Thiền, nay xin nhắc lại.
1. Phàm phu thiền. Tu thiền định theo nhà Phật, tuy chứng được bốn thiền: sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, cũng gọi là phàm phu thiền, vì tu bốn thiền này người tu chỉ sanh từ cõi trời Sắc giới trở xuống thế gian thôi, chớ chưa giải thoát.
2. Ngoại đạo thiền, cách tu thiền này có hai trường hợp: một là tu để cầu thần thông, hai là tu không hướng về nội tâm, lại hướng bên ngoài để cầu trợ lực. Trong nhà thiền định nghĩa ngoại đạo thiền một cách đơn giản là ngoài tâm cầu đạo, tức là tu thiền mà không hướng vào nội tâm để an định, lại mong cái gì bên ngoài trợ lực cho mình.
3. Tiểu thừa thiền. Chúng ta đã biết qua rồi.
4. Đại thừa thiền là cách tu thiền của ngài Huệ Tư dạy cho ngài Trí Giả Đại sư về pháp quán Không Giả Trung.
5. Thượng thừa thiền hay Tối thượng thừa thiền, tức là Thiền tông.
Đây nói thiền, chính là Thượng thừa thiền vậy. Thiền này từ đức Phật Tỳ-lô-giá-na trải qua số kiếp bất khả thuyết bất khả thuyết đến đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Đức Thích ca truyền xuống cho hai mươi tám vị Tổ ở Ấn Độ và sáu vị Tổ ở Trung Hoa, rồi Tổ Tổ trao tay cho nhau truyền bá khắp nơi, tính không thể hết được. Các vị đều do giới này, định này, tuệ này mà được chứng ngộ, thật không có pháp nào khác.
Phật Tỳ-lô-giá-na là chỉ Phật pháp thân, mà Phật pháp thân là Phật sẵn có của tất cả chúng sanh, chớ không phải riêng một đức Phật nào.
Nói rằng: đức Phật Tỳ-lô-giá-na trải qua số kiếp bất khả thuyết bất khả thuyết đến đức Phật Thích-ca Mâu-ni, đó là một lối nói, thật ra Phật pháp thân đã có sẵn từ vô số kiếp, đức Phật Thích-ca Mâu-ni đã phát hiện và Ngài đã sống được, rồi chỉ dạy lại cho hai mươi tám vị Tổ ở Ấn Độ, sáu vị Tổ ở Trung Hoa và trao lần cho đến sau này. Tất cả người ngộ được, chứng được đều có đường lối chung như vậy.
Đến đây Ngài răn:
Này các chú! Các chú đã vào trong chùa làm ông đạo, làm học trò.
Chúng tôi thêm các cô vào cho đủ: Các chú, và các cô, quí vị đã vào trong chùa làm người tu, làm học trò…
Chỉ cầu danh dự mà chẳng chịu tham đến chỗ, cái gì là chỗ hạ thủ của Phật, Tổ?
Không chịu tham cứu cho cùng tột, xem chỗ nào Phật đã ngộ Tổ đã ngộ, tìm cho tột chỗ đó.
Cái gì là chỗ dụng tâm của ngoại đạo, Tiểu thừa? Chúng ta phải biết rõ Tiểu thừa tu thế nào, ngoại đạo tu ra sao.
Luống để cho ngày lại tháng qua, lăng xăng tìm cầu bên ngoài. Một phen cái chết đến rồi phải làm sao? Đâu là nơi an thân lập mạng? Vả lại, ba ngàn oai nghi tám muôn tế hạnh, chính mình không có một mảy may. Một hôm nào đó, vua Diêm-la đến, ắt không thể tha cho ngươi. Ngươi sao chẳng chịu xét lại, chớ lấy các việc trong mộng, rồi bác không nhân quả “mênh mang bát ngát chiêu ương họa”. Như thế chẳng những làm đồi bại tông môn, mà cũng khiến suy tàn chánh pháp.
Ôi! Tôi còn biết nói gì hơn!
Đây là lời khuyên nhắc của Ngài: Là người tu trong đạo, chúng ta phải tìm cho tận cội nguồn, chỗ chư Tổ đã ngộ, chỗ đức Phật đã giác ngộ và giải thoát. Kế đến phải thấy chỗ tu của ngoại đạo, chỗ thực hành của Tiểu thừa. Rồi chúng ta cố gắng tu cho vững, làm sao nơi mình có đầy đủ ba ngàn oai nghi tám muôn tế hạnh. Được như vậy chúng ta mới có thể thoát khỏi quỉ vô thường dẫn xuống vua Diêm-la. Chớ bác không nhân quả để rồi phải tự chuốc lấy họa, làm cho Phật pháp suy vi, đó là lỗi lớn ở chính mình.
Về ba ngàn oai nghi tám muôn tế hạnh, chúng tôi kể cho quí vị nghe. Đó là căn cứ vào hai trăm năm chục giới của Tỳ-kheo, phối hợp với bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, thì được một ngàn oai nghi. Lại kết hợp với ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai, thành ba ngàn oai nghi. Đồng thời phối hợp với bảy chi của thân và khẩu là sát, đạo, dâm, lưỡng thiệt, ác khẩu, vọng ngôn, ỷ ngữ thành ra hai mươi mốt ngàn, rồi phối hợp với bốn thứ phiền

não tham, sân, si, đẳng phần, như vậy thành tám muôn bốn ngàn tế hạnh. Đây chỉ là con
số tượng trưng, chớ không có lẽ thật.
Qua bài này Tổ Pháp Loa muốn cho tất cả người tu chúng ta phải đủ ba môn: giới,
định, tuệ. Giới định tuệ viên mãn, chúng ta mới có thể thành công trên đường tu giác ngộ
và giải thoát. Nếu trong ba môn mà thiếu một, thì khó được giải thoát. Trên đây dùng rất
nhiều danh từ, chúng tôi chỉ nói đơn giản, chớ không giải thích hết được.


NÓI CHỖ CỐT YẾU CỦA ĐẠI THỪA
(Đại thừa yếu thuyết)

DỊCH:
Nếu người học cần yếu phải từ cạn đến sâu. Tức là gồm ba môn tuệ học, Văn Tư Tu, ba môn này thảy đều là Bát-nhã (trí tuệ). Giải rằng: Trước cần nghe pháp sanh tri giải, gọi là Văn tuệ. Kế suy gẫm pháp đã nghe, nhận định yếu lý rõ ràng, do suy gẫm nhập tâm mình, gọi là Tư tuệ. Rốt sau, như chỗ đã nghe, đã suy gẫm, căn cứ vào đó tu hành không cho sai chạy, gọi là Tu tuệ. Hai tuệ trước thuộc về hữu lậu, một tuệ sau thuộc vô lậu.
Trước thì cạn, sau thì sâu. Tuy cạn sâu có khác, đều gọi chung là tuệ.
Kinh Pháp Hoa nói: “Nếu người được nghe hiểu, suy gẫm tu hành, ắt biết người ấy được gần Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác (Anuttara-Samyak-Sambodhi). Lại nói Giáo Lý Hạnh Quả rằng: “Do suy tầm Giáo nên ngộ được Lý, nhân ngộ Lý khởi Hạnh, Hạnh thành thì chứng quả. Cho nên gọi là Giáo, Lý, Hạnh, Quả.
Nay lược nêu ít điều để chỉ bày cho người học, nếu khéo nhận rõ được chỗ này thì sẽ thông suốt chỗ kia. Cổ đức nói: “Học một quyển kinh được thông thì muôn quyển kinh đều hiểu.” Đây là chỗ tôi nhắc, người học phải thẩm tra tường tận.

GIẢNG:
Bài trước Ngài nói về Tam vô lậu học giới, định, tuệ, ở đây Ngài nói về Tam tuệ học văn, tư, tu. Chúng ta cần nắm vững trên đường tu cái nào quan trọng, phải biết cho hật rõ.
Nếu người học cần yếu phải từ cạn đến sâu. Tức là gồm ba môn tuệ học, Văn Tư Tu, ba môn này thảy đều là Bát-nhã (trí tuệ). Giải rằng: Trước cần nghe pháp sanh tri giải, gọi là Văn tuệ. Kế suy gẫm pháp đã nghe, nhận định yếu lý rõ ràng, do suy gẫm nhập tâm mình, gọi là Tư tuệ. Rốt sau, như chỗ đã nghe, đã suy gẫm, căn cứ vào đó tu hành không cho sai chạy, gọi là Tu tuệ. Hai tuệ trước thuộc về hữu lậu, một tuệ sau thuộc vô lậu.
Trước thì cạn, sau thì sâu. Tuy cạn sâu có khác, đều gọi chung là tuệ.
Chúng tôi sẽ giải thích cho quí vị thấy Tam tuệ học này rất thiết yếu đối với người tu học. Trước là Văn tuệ, kế là Tư tuệ, sau là Tu tuệ. Nếu người nào học đạo mà thiếu ba môn này, đó là người không biết học đạo.
Trước hết tôi nói về Văn tuệ, văn là nghe. Ví dụ như nghe giảng về các pháp vô thường, quí vị hiểu được, đó là Văn tuệ.
Nếu chúng ta nghe hiểu rồi thôi, thì cái hiểu đó chỉ là cạn cợt ngoài da, không thấm vào tâm tư mình, nên phải có tư, nghĩa là chúng ta phải ngồi lại suy gẫm cho thấu đáo xem các pháp vô thường như thế nào. Căn cứ vào thân mình từ nhỏ đến lớn, rồi già và chết, vậy thân mình là vô thường. Cái nhà khi nào mới xây cất, nay cũ rồi hư hoại, căn nhà là vô thường. Đến cây cối chúng ta trồng, từ một mầm nhỏ, lớn thành cây rồi già, khô cành gãy nhánh và chết rụi. Suy gẫm từ con người đến sự vật chung quanh như cái nhà, cây cối v.v…, chúng ta thấy tất cả đều vô thường, suy gẫm như thế gọi là Tư tuệ.
Chúng tôi thường trách Tăng Ni chỉ nghe giảng kinh dạy sử, rồi về xếp lại không suy gẫm xem những lời Phật tổ chỉ dạy ý nghĩa như thế nào, rồi tìm từ sự vật chung quanh cho đến bản thân mình xem những lời Phật tổ dạy có đúng như thật hay không?
Suy gẫm kỹ, thấy tường tận gọi là tư, như vậy mới là trí tuệ của mình.
Nghe và hiểu được những lời Phật tổ dạy là hay, là đã có trí tuệ rồi, nhưng phải suy tư thật kỹ mới thấm. Khi thấm được, biết đó là chân lý, thì phải ứng dụng tu, đó là Tu tuệ.
Đa số người học đạo chỉ có văn mà không có tư, nên hiểu cạn ngoài da. Chỉ khi nào làm thầy dạy người mới có tư một chút, suy gẫm lời Phật dạy, phải hiểu thế nào để giải cho người hiểu, nhờ đó mới thấm. Thế nên người học nhiều kinh mà không dạy người khác thì không có Tư tuệ, nên dễ quên. Nhờ dạy mà chúng ta nhớ lâu, nhìn được tường tận.
Lúc xưa khi viết về ba môn tuệ này, chúng tôi nói: Phật dạy ba môn tuệ rất khoa học, thích hợp với cuộc sống hiện tại của chúng ta. Ở thế gian bất cứ ai đi học, muốn giỏi và thành nghề, đều phải qua ba phần: Thứ nhất là lý thuyết, tức là văn. Thứ hai là thí nghiệm hay nghiền ngẫm, tức là tư. Thứ ba là thực hành, tức là tu. Trong đạo nói văn, tư, tu, ngoài đời gọi là lý thuyết, thí nghiệm và thực hành. Vậy người học Phật không phải nghe rồi tin, mà phải nghe rồi hiểu, hiểu rồi suy gẫm cho tường tận, đối chiếu từ cái này đến cái kia coi đúng như thật hay không. Chừng nào suy gẫm đúng, chừng đó mới ứng dụng tu.
Như vậy văn, tư, tu là ba môn rất thiết yếu trong nhà Phật. Trong đây chia ra hai cái trước là trí tuệ cạn, cái thứ ba mới là sâu. Tại sao? Vì thực hành rồi, mới là cái thật chứng của mình, còn chưa thực hành thì chưa thật chứng.
Kinh Pháp Hoa nói: “Nếu người được nghe hiểu, suy gẫm tu hành, ắt biết người ấy được gần Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.” Nếu người nào có đủ ba môn văn, tư, tu thì người đó gần với Phật, bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Lại nói Giáo Lý Hạnh Quả rằng: “Do suy tầm Giáo nên ngộ được Lý, nhân ngộ Lý khởi Hạnh, Hạnh thành thì chứng quả.” Cho nên gọi là Giáo, Lý, Hạnh, Quả.
Trong kinh Phật luôn luôn đặt ra giáo, lý, hạnh, quả. Từ giáo chúng ta được lý, nếu khéo tu thì từ lý sẽ đi tới hành, mà hành tức nhiên đạt được quả. Chúng tôi dẫn một câu trong kinh Kim Cang Phật dạy: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai.” “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”, phàm cái gì có tướng đều là hư dối, biết rõ được lời Phật dạy như thế gọi là giáo. Khi nghe như vậy, chúng ta phải suy gẫm, do suy gẫm mà ngộ được lý: Tất cả pháp đều là hư vọng. Vậy nương nơi giáo suy gẫm mà đạt lý, là các pháp như huyễn, hư dối, không thật.
Đến câu “nhược kiến chư tướng phi tướng” là biết các pháp duyên hợp hư huyễn.
Hiểu rõ như vậy, chúng ta nhìn pháp nào cũng biết là hư huyễn, nên các tướng của nó đều không phải tướng, tức là hư dối, huyễn hóa. Thấy tường tận như vậy gọi là hạnh. Thấy các pháp là huyễn hóa không thật, dù thiên hạ khen pháp đó là đẹp là quí, chúng ta cũng biết nó là huyễn, tức là “kiến chư tuớng phi tướng”, chừng đó liền được quả “tức kiến Như Lai”, nghĩa là thấy Phật.
Như vậy từ nơi giáo chúng ta ngộ lý, từ lý mà quán chiếu thực hành, do thực hành nên được kết quả. Chỉ trong một câu kinh của Phật gồm đủ cả giáo, lý, hạnh, quả. Nếu 
chúng ta khéo tu thì sẽ được kết quả tốt đẹp không nghi ngờ, còn không khéo tu thì khó biết được kết quả như thế nào!
Nay lược nêu ít điều để chỉ bày cho người học, nếu khéo nhận rõ chỗ này thì sẽ thông suốt chỗ kia. Nếu hiểu được chỗ này tường tận thì chỗ kia chúng ta cũng thấu suốt.
Cổ đức nói: “Học một quyển kinh được thông thì muôn quyển kinh đều hiểu.” Đây là chỗ tôi nhắc, người học phải thẩm tra tường tận.
Học một quyển kinh mà thông suốt, thâm nhập được thì đọc những quyển khác chúng ta đều hiểu. Còn đọc quyển nào cũng qua loa, dù đọc một ngàn quyển cũng không hiểu gì cả. Đó là ý nghĩa của đoạn này.


CÁCH HỌC CẦN BIẾT RÕ
(Yếu minh học thuật)

DỊCH:
Người học trước phải khảo xét Kinh, Pháp, sau mới tu hành. Kinh có năm vị, Pháp có bốn pháp.
Kinh có năm vị: 1. Tư lương vị, tức là Thập tín. 2. Gia hạnh vị, tức là Thập trụ. 3. Kiến đạo vị, tức là Thập hạnh. 4. Tu đạo vị, tức là Thập hồi hướng. 5. Cứu kính vị, tức là Thập địa.
Pháp có bốn pháp: 1. Pháp chọn bạn. 2. Pháp nghe đạo. 3. Pháp giữ đạo. 4. Pháp chứng đạo.
Vị tư lương ở đầu là phước điền chung cho tất cả, bốn vị sau là tu hành riêng. Bốn vị phối hợp với bốn pháp:
A. Pháp chọn bạn có hai: a. Không nên thân cận. b. Nên thân cận.
a. Không nên thân cận.- Tăng có bốn hạng si: Tăng tham, Tăng ác, Tăng dối trá, Tăng không có lòng tin. Thầy có bốn thứ lỗi: Thầy tà, Thầy ngoại đạo, Thầy tật đố, Thầy tiểu tâm. Bạn có bốn hạng kém: Chấp pháp Tiểu thừa, tham cầu phước báo, chấp tướng ngã nhân, tâm không trí tuệ. Những vị này đều không nên thân cận.
b. Nên thân cận.- Tăng có lục hòa: thân hòa cùng ở, miệng hòa không tranh, ý hòa không trái (ý hòa cùng vui), hiểu biết hòa cùng giải bày, giới hòa cùng tu, lợi hòa chia đồng nhau. Thầy có bốn hạng chánh: Thầy chánh tông, Thầy chánh tâm, Thầy chánh hạnh, Thầy chánh ngữ. Bạn có bốn hạng thù thắng: Học Đại thừa, thông suốt kinh điển, thấy việc vô ích thì khuyên can, có nạn giúp đỡ nhau. Những người này nên thân cận, tức thuộc Gia hạnh vị.
B.- Pháp nghe đạo.- Vì thân cận thầy bạn nên được ngộ chánh tông, xa lìa pháp tướng, thường giữ nội tâm, tức là vị Kiến đạo.
C.- Pháp giữ đạo.- Người đã ngộ chánh tông nên chọn cảnh mà ở. Cảnh thì có núi dữ, nước (sông) dữ không nên ở. Cảnh phải đủ bốn duyên: nước, lửa, lương thực, rau quả, là đủ bốn duyên. Lại nói: Cảnh không gần nhân gian, chẳng xa nhân gian. Gần thì ồn náo, xa thì không người hộ trì, đây là cảnh nên ở. Ở cảnh này dễ dứt nghiệp, dưỡng thần nuôi trí, sanh tâm Bát-nhã, tính ghi nhớ, nuôi lớn thai thánh, ắt được chứng đạo. Đây tức thuộc vị cứu kính, tức pháp viên mãn đạo, mới được siêu phàm nhập thánh.
Kinh Pháp Hoa phẩm An Lạc Hạnh dẫn kinh A-hàm nói: Xa lìa bốn hạng bạn ác, gần gũi bốn hạng bạn lành. Xa lìa bốn hạng bạn ác là:
1. Gần gũi bạn ác bên ngoài thì sợ, mà trong lòng không thân.
2. Nói lời êm đẹp với bạn ác, lời thì thuận mà ý thì trái.
3. Kính thuận bạn ác, tâm tuy kính thuận đối với việc làm thiện ác đều hùa theo, mà không có tâm can gián nhau.
4. Đồng sự với bạn ác, là cùng bạn ác làm việc ác, như cùng uống rượu, cờ bạc, dâm dật, ca múa…
Bốn hạng bạn lành là: 1. Bạn lành dừng lỗi, mọi việc ác cùng dừng. 2. Bạn lành thương mến, gặp việc khổ thương mến nhau. 3. Bạn lành lợi người, được việc vui chia sớt nhau. 4. Bạn lành đồng sự, gặp việc lành chung nhau làm.
Thấy học giả thời nay, chưa nghe đạo tự xưng mình hành đạo. Chẳng biết họ hành cái đạo gì? Cổ đức nói: “Ăn được vài cọng rau, tự xưng là Tổ sư trai.” Lại nói “Như con trâu trọn đời ăn cỏ, mà chưa từng thành Phật”. Cho nên ngài Tuệ Trung nói: “Ăn rau cùng ăn thịt, chúng sanh mỗi sở thuộc; xuân về trăm cỏ sanh, làm sao thấy tội phước?”
Lý (Linh) Nguyên nói: “Ba chục năm qua tầm kiếm khách.” Đây là nghe đạo, sau mới hành đạo vậy.

Vả Sư là người tiếp mùi thơm bủa khắp của hai mươi tám vị Tổ Ấn Độ, mồi đèn trao đuốc của sáu vị Tổ Trung Hoa, noi dấu tông Dương Kỳ, được yếu chỉ ngài Viên Ngộ.
Thường ngày bàn thiền nói pháp, mà không một pháp có thể được. Nơi nơi tiếp độ chúng sanh, mà không phải chúng sanh, nhưng chẳng chúng sanh nào không được lợi. Ngài khi đi thì xem trâu đá rống trăng, đứng thì nghe ngựa gỗ hí gió, ngồi thì tựa gốc cây không bóng, nằm thì nghỉ trong tháp Vô phùng. Ai có thể dò xét được bờ mé của Ngài.
Kinh Chư Sơn Lâm nói: “Thiền tông ở nơi triều thị, nếu gặp được chỉ thú ngoài lời, chẳng dính nơi thấy nghe, chớ kẹt lý huyền trong ngôn cú, buông lỏng nghĩ bàn. Về sau ở trong Tông môn mới được một chuyển ngữ, quyết nhận ông nắm tay nhau cùng đi. Nếu không được vậy, ắt giống loài mọt đục sách chẳng khác.”
Tuy tôi có duyên kim cải, gặp được sách quí, hổ thẹn không có tài nhả phượng, lạm biên dấu vết Thánh Hiền, nhờ việc thiện nhỏ này, dâng lên đền đáp bốn ân. Dù cho nhiều đời nát xương, cũng khó đền được bốn ơn như trời cao lồng lộng. Nghe một câu mà lặng thần có thể thành được Chánh giác.

Ôi!
Kiếm vì bất bình rời vỏ báu
Thuốc do trị bịnh thoát bình vàng.
Kệ rằng:
Ma cường pháp nhược đạo sao côi,
Phật Tổ khuyên răn tạo bản đồ.
Chỉ có lời huyền làm mẫu mực,
Ai hay thức giả giải hạnh vô.
Phạm Văn Vũ ở xã Thanh Liệu khắc bản in.

GIẢNG:
Người học trước phải khảo xét Kinh, Pháp, sau mới tu hành. Kinh có năm vị, Pháp có bốn pháp.
Kinh có năm vị:
1. Tư lương vị, tức là Thập tín.
2. Gia hạnh vị, tức là Thập trụ.
3. Kiến đạo vị, tức là Thập hạnh.
4. Tu đạo vị, tức là Thập hồi hướng.
5. Cứu kính vị, tức là Thập địa.
Kinh có năm vị, mỗi vị có mười phần gọi là Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng và Thập địa.
Theo kinh Lăng Nghiêm, năm vị gồm có:
1. Tư lương vị tức là Thập tín. Bước vào vị Bồ-tát, Thập tín là căn bản, gồm có: 1. Tín tâm, 2. Niệm tâm, 3. Tinh tấn tâm, 4. Tuệ tâm, 5. Định tâm, 6. Bất thối tâm, 7. Hộ pháp tâm, 8. Hồi hướng tâm, 9. Giới tâm, 10. Nguyện tâm.
2. Gia hạnh vị tức là Thập trụ: 1. Phát tâm trụ, 2. Trị địa trụ, 3. Tu hành trụ, 4. Sinh quí trụ, 5. Phương tiện cụ túc trụ, 6. Chánh tâm trụ, 7. Bất thối trụ, 8. Đồng chân trụ, 9. Pháp vương tử trụ, 10. Quán đỉnh trụ.
3. Kiến đạo vị tức là Thập hạnh: 1. Hoan hỉ hạnh, 2. Nhiêu ích hạnh, 3. Vô sân hận hạnh, 4. Vô tận hạnh, 5. Ly si loạn hạnh, 6. Thiện hiện hạnh, 7. Vô trước hạnh, 8. Tôn trọng hạnh, 9. Thiện pháp hạnh, 10. Chân thật hạnh.
4. Tu đạo vị tức là Thập hồi hướng: 1. Cứu hộ nhất thiết chúng sanh ly chúng sanh tướng hồi hướng, 2. Bất hoại hồi hướng, 3. Đẳng nhất thiết Phật hồi hướng, 4. Chí nhất thiết xứ hồi hướng, 5. Vô tận công đức tạng hồi hướng, 6. Tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng, 7. Tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sanh hồi hướng, 8. Chân như tướng hồi hướng, 9. Vô phược giải thoát hồi hướng, 10. Pháp giới vô lượng hồi hướng.
5. Cứu kính vị tức là Thập địa: 1. Hoan hỉ địa, 2. Ly cấu địa, 3. Phát quang địa, 4. Diệm tuệ địa, 5. Nan thắng địa, 6. Hiện tiền địa, 7. Viễn hành địa, 8. Bất động địa, 9. Thiện tuệ địa, 10. Pháp vân địa.
Đây là phối hợp năm vị trải qua năm mươi địa của chư Bồ-tát.
Pháp có bốn pháp: 1. Pháp chọn bạn, 2. Pháp nghe đạo, 3. Pháp giữ đạo, 4. Pháp chứng đạo.
Vị tư lương ở đầu là phước điền chung cho tất cả, bốn vị sau là tu hành riêng. Bốn vị phối hợp với bốn pháp.
Đây nói bốn pháp:
1. Pháp chọn bạn có hai:
a. Không nên thân cận.
b. Nên thân cận.
Về chọn bạn thì phải biết bạn nên thân cận và bạn không nên thân cận. Đây là nói về pháp số, nhưng thật ra là chỉ cho chúng ta sống trong tùng lâm biết người nào nên gần, người nào không nên gần.
a. Không nên thân cận.
Tăng có bốn hạng si: Tăng tham, Tăng ác, Tăng dối trá, Tăng không có lòng tin.
Tăng là chỉ chung cả tăng và ni.
Một là tăng tham, người tu dù tăng hay ni nhưng lòng tham muốn chứa chấp nhiều của cải tiền bạc, tăng đó chúng ta không nên thân cận, gần gũi.
Hai là tăng ác, thường gọi là ác tăng, cũng không nên gần gũi. Tại sao? Vì những người đó tuy hình thức người tu mà không có tâm từ bi hỉ xả, chỉ chứa chấp sự nóng giận hung dữ.
Ba là tăng dối trá, bên ngoài thì hình thức người tu mà trong lòng chứa chấp những điều gian giảo, dối trá, lừa bịp người chớ không thật tu.
Bốn là tăng không có lòng tin. Tuy tu Phật mà không tin Phật, lại tin những chuyện đâu đâu. Thí dụ như pháp Phật dạy phải lấy nhân quả làm căn bản, nhưng chúng ta không tin nhân quả, lại tin bùa chú… các thứ mê tín bên ngoài.
Đây là nói về tăng bạn bè ngang hàng.
Thầy có bốn thứ lỗi: Thầy tà, thầy ngoại đạo, thầy tật đố, thầy tiểu tâm.
Thầy tà là thầy dạy mình những điều không đúng chánh pháp.
Thầy ngoại đạo như ở những ngôi chùa có vị thầy dạy mình coi tay, coi tướng, bói quẻ v.v…
Thầy tật đố, tức là thầy cứ chê người này, ghét người kia, giận người nọ, nghe nói ai hơn mình thì tức tối, chống cự v.v…
Thầy tiểu tâm tức thầy tâm nhỏ, làm việc gì cũng nhắm vào sự ích kỷ của bản thân, của cá nhân.
Học những điều này có lợi cho người học trò và cả người thầy, để biết mình thuộc hạng nào mà dè dặt.
Bạn có bốn hạng kém: Chấp pháp Tiểu thừa, tham cầu phước báo, chấp tướng ngã nhân, tâm không trí tuệ.
Những người bạn nói: Làm đi có phước lắm, đời sau sanh ra giàu sang sung sướng, bạn đó là bạn tham cầu phước báo.
Bạn chấp tướng ngã nhân là người bạn khi nói chuyện luôn luôn đem người này người kia ra để phê phán khen chê.
Bạn tâm không trí tuệ, si mê không biết lẽ phải quấy, đúng sai, đó là không có trí tuệ.
Những vị này đều không nên thân cận.
Tóm lại, Ngài dạy chúng ta mỗi phần có bốn hạng không nên thân cận. Tăng là chung cho cả Tăng Ni, những vị tăng nào thuộc về tham, ác, dối trá, không có lòng tin thì chúng ta không nên gần.
Kế đến là thầy, vị thầy nào không dạy chánh đạo, lại đem pháp ngoại đạo dạy là thầy tà, thầy ngoại đạo không nên gần. Vị thầy nào khinh người này, chê người kia, hoặc ai hơn thì kiếm chuyện gièm pha, nhỏ nhen ích kỷ là thầy tật đố, thầy tiểu tâm thì không nên gần.
Còn bạn thì nhớ bạn thích pháp Tiểu thừa, bạn thích cầu phước báo, bạn nói về nhân ngã, bạn không có trí tuệ thì không nên gần.
Những điều này quí vị phải biết để chọn tăng, chọn thầy, chọn bạn không bị lầm.
b. Nên thân cận:
Tăng có lục hòa: Thân hòa cùng ở, miệng hòa không tranh, ý hòa không trái (ý hòa cùng vui), tức là ý hòa đồng duyệt, duyệt là vui, chẳng những không trái mà còn vui với nhau. Hiểu biết hòa cùng giải bày, giới hòa cùng tu, lợi hòa chia đồng nhau. Tăng có sáu hòa là tăng chúng ta nên thân cận.
Thầy có bốn hạng chánh: Thầy chánh tông, thầy chánh tâm, thầy chánh hạnh, thầy chánh ngữ.
Thầy chánh tông là thầy dạy chúng ta con đường tu hành đúng như Phật Tổ.
Thầy chánh tâm là thầy hướng chúng ta tu, đi thẳng vào con đường đạo chớ không quanh co.
Thầy chánh hạnh tức là thầy có hạnh chân chánh để hướng dẫn mình.
Thầy chánh ngữ tức thầy dùng lời chân chánh của Phật Tổ đem ra dạy.

Bạn có bốn hạng thù thắng: Học Đại thừa, thông suốt kinh điển, thấy việc vô ích thì khuyên can, có nạn giúp đỡ nhau.
Bốn hạng đó là nên thân cận. Quí vị nhớ bốn hạng bạn này để chọn cho kỹ và nên gần. Còn thấy chuyện vô ích mà không khuyên can để mặc làm gì làm, đó chưa phải là bạn tốt, chưa phải là bạn lành. Có tai nạn thì ngó lơ, đó cũng không phải là bạn lành.
Những người này nên thân cận, tức thuộc Gia hạnh vị.
Tóm lại tăng thì phải được lục hòa mới nên gần. Thầy thì phải chánh tông, chánh tâm, chánh hạnh, chánh ngữ mới nên gần. Bạn thì phải thông Đại thừa, suốt kinh điển, khuyên can mình điều quấy, giúp đỡ khi khó khăn, mới nên gần.
2. Pháp nghe đạo. Vì thân cận thầy bạn nên được ngộ chánh tông, xa lìa pháp tướng, thường giữ nội tâm, tức là vị Kiến đạo.
Nếu người tu được gần những vị Tăng lục hòa, những thầy chân chánh, những người bạn tốt, tức là đã tiến được một bước rồi.
3. Pháp giữ đạo. Người đã ngộ chánh tông nên chọn cảnh mà ở. Cảnh thì có núi dữ, nước (sông) dữ không nên ở. Chữ dữ này là chỗ xấu, tức là những núi hiểm nguy, những nơi nước độc v.v… không nên ở.
Cảnh phải đủ bốn duyên: nước, lửa, lương thực, rau quả, là đủ bốn duyên. Ở đâu có đủ bốn duyên đó thì nên ở, vì ở mà không có rau ăn cũng không được, không có lương thực làm sao ở? Cho nên chỗ ở phải có đủ nước, đủ lửa, đủ lương thực, đủ rau quả.
Lại nói: Cảnh không gần nhân gian, chẳng xa nhân gian. Gần thì ồn náo, xa thì không người hộ trì, đây là cảnh nên ở.
Người xưa kỹ như vậy. Chúng ta có bệnh là khi thích ồn thì đến chỗ chợ búa thật đông, khi thích vắng thì muốn vào tận rừng sâu. Chợ búa hoặc rừng sâu, thích hai nơi đó đều là bệnh. Thế nên ở đây dạy đừng gần nhân gian lắm, gần thì ồn, mà xa thì không ai ủng hộ, như vậy phải vừa chừng. Trúc Lâm rất là vừa, không gần mà không xa. Cho nên chỗ ở phải lựa kỹ, không phải muốn ở đâu là ở chỗ đó cho bằng được [Nghi là: Đây thuộc vị Tu đạo].
Ở cảnh này dễ dứt nghiệp, dưỡng thần nuôi trí, sanh tâm Bát-nhã, tính ghi nhớ, nuôi lớn thai thánh, ắt được chứng đạo. Đây tức thuộc vị cứu kính, tức pháp viên mãn đạo, mới được siêu phàm nhập thánh.
4. Pháp chứng đạo: Ở cảnh này…
Kinh Pháp Hoa phẩm An Lạc Hạnh dẫn kinh A-hàm nói: Xa lìa bốn hạng bạn ác, gần gũi bốn hạng bạn lành.
Xa lìa bốn hạng bạn ác là:
1. Gần gũi bạn ác bên ngoài thì sợ, mà trong lòng không thân. Vì họ có qui luật thì sợ chớ trong lòng không ưa.
2. Nói lời êm đẹp với bạn ác, lời thì thuận mà ý thì trái. Nói hùa, nói nịnh theo, trong ý lại không thuận.
3. Kính thuận bạn ác, tâm tuy kính thuận đối với việc làm thiện ác đều hùa theo, mà không có tâm can gián nhau. Tốt xấu gì cũng hùa làm hết, không biết can gián nhau.
4. Đồng sự với bạn ác, là cùng bạn ác làm việc ác, như cùng uống rượu, cờ bạc, dâm dật, ca múa…
Bốn hạng bạn lành là:
1. Bạn lành dừng lỗi, mọi việc ác cùng dừng. Gần bạn lành thì những lỗi lầm của mình, nhờ bạn khuyên can, nên càng ngày chúng ta càng dừng được lầm lỗi.
2. Bạn lành thương mến, gặp việc khổ thương mến nhau. Khi gặp tai nạn thì thương mến cứu giúp nhau.
3. Bạn lành lợi người, được việc vui chia sớt nhau”, nghĩa là những gì cùng vui, cùng được lợi ích thì chia sớt với nhau.
4. Bạn lành đồng sự, gặp việc lành chung nhau làm.
Ngài muốn dẫn cho chúng ta nhớ trong kinh dạy phải nên gần những người lành như vậy, chớ không nên gần những người dữ.
Thấy học giả thời nay, chưa nghe đạo tự xưng mình hành đạo.
Chưa có học mà nói hành là hành cái gì? Nói hành đạo là phải học đạo, không học đạo mà nói hành đạo, đó là nói dối không đúng sự thật.
Chẳng biết họ hành cái đạo gì? Cổ đức nói: Ăn được vài cọng rau, tự xưng là Tổ sư trai, mới ăn vài cọng rau mà xưng là Tổ rồi, Tổ sư trai.
Lại nói “Như con trâu trọn đời ăn cỏ, mà chưa từng thành Phật.” Cho nên ngài Tuệ Trung nói: “Ăn rau cùng ăn thịt, chúng sanh mỗi sở thuộc; xuân về trăm cỏ sanh, làm sao thấy tội phước?”
Lý (Linh) Nguyên nói: “Ba chục năm qua tầm kiếm khách.” Đây là nghe đạo, sau mới hành đạo vậy.
Tôi nghi Ngài lầm Linh Vân là Lý Nguyên vì câu “ba chục năm qua tầm kiếm khách”, là một câu trong bốn câu thơ của ngài Linh Vân. Khi thấy hoa đào ngộ đạo, Ngài đọc lên bài kệ:
Tam thập niên lai tầm kiếm khách,
Kỷ hồi lạc diệp hựu sưu chi.
Tự tùng nhất kiến đào hoa hậu,
Trực chí như kim cánh bất nghi.
Như vậy câu được dẫn là câu đầu bài thơ của ngài Linh Vân. Nguyên Thiền sư Chí Cần ở núi Linh Vân, khi nhìn thấy hoa đào Ngài ngộ đạo, làm bài kệ này, cho nên không thể nói câu này là của Lý Nguyên được. Vì thế câu này là của Linh Vân thì hợp lý hơn.
Tóm lại Ngài nói rõ rằng người muốn ngộ đạo, trước phải học đạo, nên nói ba chục năm qua tầm kiếm khách, tức là đi chỗ này chỗ kia để cầu học, tìm hiểu. Đó là ý:
Đây là nghe đạo, sau mới hành đạo vậy. Nhờ tìm học, chúng ta mới thực hiện được những gì đã học, gọi đó là hành.
*
Đến phần của người khắc bản in.
Vả Sư là người tiếp mùi thơm bủa khắp của hai mươi tám vị Tổ Ấn Độ, mồi đèn trao đuốc của sáu vị Tổ Trung Hoa, noi dấu tông Dương Kỳ, được yếu chỉ ngài Viên Ngộ.
Thường ngày bàn thiền nói pháp mà không có một pháp có thể được. Nơi nơi tiếp độ chúng sanh mà không phải chúng sanh, nhưng chẳng chúng sanh nào không được lợi.
Ngài khi đi thì xem trâu đá rống trăng, đứng thì nghe ngựa gỗ hí gió, ngồi thì tựa gốc cây không bóng, nằm thì nghỉ trong tháp Vô phùng. Ai có thể dò xét được bờ mé của Ngài.
Kinh Chư Sơn Lâm nói: “Thiền tông ở nơi triều thị, nếu gặp được chỉ thú ngoài lời, chẳng dính nơi thấy nghe, chớ kẹt lý huyền trong ngôn cú, buông lỏng nghĩ bàn. Về sau ở trong Tông môn mới được một chuyển ngữ, quyết nhận ông nắm tay nhau cùng đi. Nếu không được vậy, ắt giống loài mọt đục sách chẳng khác.”
Tuy tôi có duyên kim cải, gặp được sách quí, hổ thẹn không có tài nhả phượng, lạm biên dấu vết Thánh Hiền, nhờ việc thiện nhỏ này, dâng lên đền đáp bốn ân. Dù cho nhiều đời nát xương, cũng khó đền được bốn ân như trời cao lồng lộng. Nghe một câu mà lặng thần có thể được thành Chánh giác.

Ôi!
Kiếm vì bất bình rời vỏ báu,
Thuốc do trị bịnh thoát bình vàng.
Kệ rằng:
Ma cường, pháp nhược, đạo sao côi,
Phật Tổ khuyên răn tạo bản đồ.
Chỉ có lời huyền làm mẫu mực,
Ai hay thức giả giải hạnh vô.
(Phạm Văn Vũ ở xã Thanh Liệu khắc bản in.)

Tôi giải thích cho quí vị thấy rõ đoạn này.
Phần trên là phần của ngài Pháp Loa dạy, phần này là phần kết thúc của người in sách. Ông cũng là người rất thâm hiểu Phật pháp, thâm hiểu thiền. Trước hết ông tán thán ngài Pháp Loa: Vả Sư (Sư là chỉ ngài Pháp Loa) là người tiếp mùi thơm bủa khắp của hai mươi tám vị Tổ Ấn Độ, mồi đèn trao đuốc của sáu vị Tổ Trung Hoa, noi dấu tông Dương Kỳ, được yếu chỉ ngài Viên Ngộ (Phật Quả). Đây là tán thán ngài Pháp Loa tiếp nối các vị Tổ Ấn Độ, các vị Tổ Trung Hoa cho đến những vị Tổ sau này. Phần này là nói về sự truyền thừa. Đến diệu dụng của Ngài trong sự giáo hóa:
Thường ngày bàn thiền nói pháp mà không một pháp có thể được. Khi Ngài còn sống thì luôn luôn bàn thiền nói pháp với đệ tử, với mọi người. Tuy bàn, tuy nói mà không một pháp có thể được, tức là không dính mắc một pháp nào.
Nơi nơi tiếp độ chúng sanh mà không phải chúng sanh, nghĩa là Ngài luôn luôn đi hoằng hóa, giảng dạy các nơi để tiếp độ chúng sanh mà không thấy có một chúng sanh thật. Nhưng chẳng chúng sanh nào không được lợi, tuy không thấy một chúng sanh thật mà các chúng sanh đều được ơn giáo hóa của Ngài và được lợi lạc.
Đến sự sống của Ngài:
Ngài khi đi thì xem trâu đá rống trăng, đứng thì nghe ngựa gỗ hí gió, ngồi thì tựa gốc cây không bóng, nằm thì nghỉ trong tháp Vô phùng, ai có thể dò xét được bờ mé của Ngài?

Đây là nói các hành động của Ngài: Đi, đứng, ngồi, nằm đều ở trong thể thanh tịnh như như, nhưng đầy đủ diệu dụng. Đi thì xem trâu đá rống trăng. Trâu đá có cử động không mà biết rống? Đó là để thấy trong thể bất động như như vẫn có diệu dụng. Đứng thì nghe ngựa gỗ hí gió, con ngựa gỗ hí theo các luồng gió lộng. Như vậy đi và đứng đều ở trong thể bất động mà đầy đủ diệu dụng. Ngồi thì tựa gốc cây không bóng. Có gốc cây nào không bóng, trừ trời râm, trời mát. Khi nằm thì nghỉ trong tháp Vô phùng. Tháp Vô phùng là tháp gì? Cũng có người dịch là không chăn chiếu, có người dịch là không khoác áo cà-sa. Nhưng sự thật tháp Vô phùng là do sự tích: Vào đời Đường, Quốc sư Huệ Trung được vua Đường Túc Tông thỉnh về giảng dạy ở kinh đô. Qua đến đời vua Đường Đại Tông, biết mình sắp tịch, Ngài báo tin cho vua Đường biết.
Vua hỏi: Hòa thượng tịch, đệ tử sẽ làm gì để kỷ niệm?
Ngài nói: Bệ hạ xây một ngôi tháp Vô phùng.
Vua Đường Đại Tông là một vị vua hiểu thiền, hỏi: Xin Thầy cho kiểu tháp.
Ngài lặng thinh giây lâu hỏi: Hiểu chăng?
Đáp: Không hiểu.
Ngài dạy: Tôi tịch rồi, có thị giả tên là Đam Nguyên sẽ giải cho.
Sau khi Ngài tịch, vua Đại Tông mời Thiền sư Đam Nguyên tới, nói rằng: Hòa thượng nói tháp Vô phùng, nay nhờ Thầy giải thích. Đam Nguyên liền đọc bốn câu kệ:

Tương chi nam, đàm chi bắc,
Trung hữu huỳnh kim sung nhất quốc.
Vô ảnh thọ hạ hiệp đồng thuyền,
Lưu ly điện thượng vô tri thức.
Dịch:
Bên nam sông Tương, bên bắc cái đầm,
Khoảng giữa vàng ròng đầy một nước.
Dưới cây không bóng nên đồng thuyền,
Trên điện lưu ly không tri thức.
Đó là diễn tả tháp Vô phùng.

Nói rằng: “Dưới cây không bóng nên đồng thuyền”, nên ở đây mới dùng câu:
Ngồi thì tựa gốc cây không bóng. Cây không bóng là diễn tả tháp Vô phùng.

Nằm thì nghỉ trong tháp Vô phùng. Trong tháp Vô phùng, chỗ nằm nghỉ được diễn tả rất hay: “Lưu ly điện thượng vô tri thức”, trên điện lưu ly không tri thức. Ai không tri thức thì nằm được trên điện lưu ly. Như vậy rõ ràng là diễn tả tháp Vô phùng.
Nhưng có người hiểu lầm, tưởng chữ phùng là vá, không ngờ Ngài muốn chỉ thể không sanh diệt, hằng trong sáng, không niệm phân biệt, đó là tháp Vô phùng của Ngài.
Thế nên chúng ta đọc phải hiểu cội nguồn mới không kẹt trong lời dịch.
Như vậy lời của vị này cho thấy ngài Pháp Loa là con người đã ngộ và sống được với lý đạo, nên đi, đứng, ngồi, nằm đều ở trong thể không sanh không diệt, hằng sáng không bị một vết nhơ. Ở trong thể đó ai có thể dò xét được bờ mé của Ngài, nên không ai biết được hành tung của Ngài.
Tóm lại đây là lời khen: Một là khen sự kế thừa, hai là khen sự truyền pháp, ba là khen trong bốn oai nghi, Ngài đều sống đúng với thể chân thật đầy đủ diệu dụng.
Kinh Chư Sơn Lâm nói: Thiền tông ở nơi triều thị, nếu gặp được chỉ thú ngoài lời, chẳng dính nơi thấy nghe, chớ kẹt lý huyền trong ngôn cú, buông lỏng nghĩ bàn. Về sau ở trong Tông môn mới được một chuyển ngữ, quyết nhận ông nắm tay nhau cùng đi.
Ông nói trong kinh Chư Sơn Lâm dạy rằng: Thiền tông ở nơi triều thị, tức là ở nơi triều đình, thị tứ, nếu gặp được chỉ thú ngoài lời, tức là giáo ngoại biệt truyền, không dính, không mắc nơi thấy nghe, cũng không kẹt lý huyền trong ngôn cú, tức là không chấp những lý lẽ cao siêu trong lời, nên dừng hết những nghĩ bàn.
Về sau ở trong Tông môn mới được một chuyển ngữ, quyết nhận ông nắm tay nhau cùng đi, về sau ở trong nhà thiền mới được một câu thông suốt. Như vậy quyết nắm tay ngài Pháp Loa cùng đi.
Nếu không được vậy ắt giống loài mọt đục sách chẳng khác. Nếu không được vậy, giống như con mọt đục sách, đọc mãi phủng sách không có lợi gì. Đó là lời tán thán và nhắc nhở.
Tiếp đến ông nói riêng về ông:
Tuy tôi có duyên kim cải. Trong kinh Nam Bản Niết-bàn có câu: “Giới tử đầu châm phong, Phật xuất nan ư thị”, nghĩa là như hạt cải ném trên mũi nhọn cây kim là việc khó, Phật ra đời cũng khó như vậy. Thế nên ông dẫn: Tuy tôi có duyên kim cải gặp được sách quí, hổ thẹn không có tài nhả phượng, lạm biên dấu vết Thánh Hiền, nhờ việc thiện nhỏ này, dâng lên đền đáp bốn ơn. Dù cho nhiều đời nát xương, cũng khó đền được bốn ơn như trời cao lồng lộng. Ông có duyên rất hiếm, mới gặp được những quyển sách của ngài Pháp Loa, nhưng ông không có tài nhả phượng phun châu nên khó nói hết được cái hay của kinh sách. Vì thế ông chỉ ghi lại để người sau noi theo dấu vết Thánh Hiền, lấy việc đó làm công đức để đền đáp bốn ơn. Đối với ông thì bốn ơn đó dầu cho nát xương nhiều đời cũng không thể đền đáp được, vì bốn ơn to lớn như trời cao lồng lộng. Chỉ có ai: Nghe một câu mà lặng thần có thể được thành Chánh giác, như thế mới đền được bốn ơn. Ông dẫn:
Ôi!
Kiếm vì bất bình rời vỏ báu,
Thuốc do trị bịnh thoát bình vàng.
Cây kiếm vì những việc trái với đạo lý, với điều lành, nên ra khỏi vỏ báu để trừng trị kẻ xấu ác. Thuốc để trong bình vàng, nhưng muốn cứu người bệnh, nên trút ra khỏi bình vàng. Hai câu này nói rằng đạo lý chân thật, quí báu, nếu không có chuyện cần thiết thì nó nằm im. Đến khi vì cứu đời, vì đem lợi ích cho chúng sanh, nó mới có những diệu dụng. Thể chân thật vốn bất động, nhưng vì chúng sanh nên phải động để làm lợi ích cho người.
Kết thúc là bài kệ than vãn của ông:
Ma cường pháp nhược đạo sao côi, ma mạnh, pháp yếu, đạo thì cô đơn quá, ít có người lưu tâm để ý.
Phật Tổ khuyên răn tạo bản đồ. Phật Tổ luôn luôn nhắc nhở khuyên răn, ghi thành sách vở, cũng như vẽ bản đồ cho chúng ta theo.
Chỉ có lời huyền làm mẫu mực. Những lời nhiệm mầu, cao cả này là để làm mẫu mực cho đời sau nương theo tu hành.
Ai hay thức giả giải hạnh vô. Ai có biết đâu, gọi là thức giả mà giải và hạnh đều không có. Nếu thật là thức giả thì hạnh giải phải tương ưng. Giải là hiểu, hạnh là hành, hiểu và hành phải tương ưng nhau. Nếu cho mình là thức giả mà không giải, không hạnh, đó là thức giả hư dối.
Bốn câu kệ là lời cảnh tỉnh những người sau. Vì chúng ta sống trong thời ma cường pháp nhược, đạo đức suy kém, nên lời khuyên của Phật Tổ là bản đồ chúng ta phải noi theo. Nương theo những lời nhiệm mầu của Phật Tổ chúng ta tu hành mới được giải thoát. Đừng cho rằng mình là người trí thức mà không giải, không hạnh. Người tu Phật phải có đủ giải, hạnh thì sự tu hành mới có kết quả.
Trên đây là lời khắc bản in của ông Phạm Văn Vũ ở xã Thanh Liệu.
Đọc sách xưa, thấy được tâm mến đạo của người xưa, chúng ta rất là kính nể. Như vị khắc bản in những quyển sách của ngài Pháp Loa, ngài Huyền Quang, khi được các bản đó ông mừng rỡ, quí trọng, đem khắc lại cho người sau tu học, đó là tâm trạng của những người kính trọng chánh pháp và muốn duy trì chánh pháp. Còn chúng ta ngày nay khi được những quyển sách đó, chúng ta đọc, chúng ta hiểu rồi cần phải tu. Có tu mới gọi là giải hạnh tương ưng. Tổ Đạt-ma có nói: “Giải hạnh tương ưng, danh vi viết Tổ.” Nghĩa là học rồi hiểu, hiểu rồi thực hành, hai điều đó kịp với nhau là Tổ. Vì học mà không hiểu, thì cái học cũng chưa có lợi, học rồi hiểu, hiểu rồi hành, hành tức là hạnh. Như đoạn trước đã nói văn, tư, rồi tu, đủ cả ba là gần được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Thế nên học đạo đừng bao giờ nghĩ là chúng ta học hiểu để nói cho người khác nghe, mà phải nghĩ học hiểu để tu. Nếu học hiểu tu được rồi, thì lợi ích của chúng sanh sẽ đến. Nếu muốn học nhiều nhớ nhiều để nói cho thiên hạ nghe mà chính mình không tu thì việc lợi ích cho người rất là giới hạn. Tại sao? Ví dụ gặp Phật tử nào tôi cũng khuyên ráng tập tâm từ bi hỉ xả để tu theo hạnh Phật, hạnh Bồ-tát, như vậy cuộc sống sẽ an vui.
Tôi khuyên người như vậy nhưng có ai chọc tôi giận, tôi nhớ đời đời, gặp mặt tôi không thèm ngó, như vậy người ta đánh giá tôi như thế nào? Từ bi hỉ xả đến mức nào? Tức nhiên lời Phật Tổ nói mình thuộc và đem dạy người, mà chính mình chưa tu được thì khi gặp việc, hạnh của mình vẫn là phàm phu, tuy lời nói là lời thánh giả. Lời nói thánh trong con người phàm, thì người nghe sẽ nghĩ: Ông ấy học lóm của Phật rồi nói, chớ thật ông có được gì đâu. Như vậy điều gì mình học được, hiểu được, ứng dụng được, thì đó mới xứng đáng. Còn học được hiểu được mà không ứng dụng thì chưa xứng đáng. Cho nên chúng ta nhớ chư Phật, chư Tổ luôn luôn khuyên răn chúng ta ráng học, hiểu và cũng phải ráng tu, ba việc phải theo nhau, thì việc tu mới có giá trị.
Vì lẽ đó tôi chủ trương rằng tất cả Tăng Ni cũng như Phật tử chúng ta học vừa phải, nhưng những gì chúng ta học được, chúng ta phải thực hành, phải tu. Trong nhà Phật thường hay ví dụ, những đứa bé chưa biết lợi hại nên gặp những bữa cơm ngon, thức ăn ngon nó dồn vào đầy bụng, nhưng tiêu không nổi thành sanh bệnh. Trái lại nếu nó biết chừng mực, dầu ngon cũng ăn vừa phải để cho bao tử tiêu hóa, chế biến ra các chất bồi dưỡng cơ thể thì mới hữu ích. Cũng như thế, chúng ta nghe cho nhiều, học cho lắm mà không chịu tu, đó là bệnh, vì nói gì chúng ta cũng hiểu thì có ai nhắc mình được đâu?
Vừa mở miệng nhắc, dẫn kinh nào chúng ta thuộc kinh nấy, thành ra đâu có nói được.
Nhắc chúng ta không được, mà chúng ta không tu, đó là bệnh nặng. Thế nên học là việc đầu tiên, rồi suy gẫm cho thấm nhuần, rồi phải ứng dụng tu. Như vậy tất cả lời Phật Tổ dạy hữu ích vô cùng và đem lại cho đời tu chúng ta những điều mà người thế gian không thể lường nổi. Vì thế các ngài nói nếu được như vậy thì chúng ta cùng Tổ Phật nắm tay đồng đi, kề vai cùng đi chớ không kém.
Tóm lại tôi muốn nhắc Tăng Ni cũng như Phật tử, học kinh học đạo phải khéo ứng dụng cho được, dầu không hoàn toàn, nhưng học mười cũng ứng dụng được năm, đó mới là hữu ích. Còn nếu học cho có kiến thức để khoe với thiên hạ, thì chưa lợi ích bao nhiêu. Vậy mong tất cả học phải hành. Hành thì sẽ có lợi ích. Đó là lời tôi muốn nhắc nhở chung cho tất cả. 

 Video: Trích đoạn

Nguồn Internet

✍️ Mục lục: Tam Tổ Trúc Lâm 👉  Xem tiếp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *