Cẩm Nang Ăn Uống – Thiền Tông
✍️ Mục lục: Cẩm nang Ăn Uống – Thiền Tông
9. Cách lấy chất ngọt trong rau củ để làm nước nêm thay đường:
– Bắp trái, 1 trái, lột vỏ, rửa sạch, bẻ đôi.
– Mướp, 1 trái, rửa sạch, xắt làm hai hay ba, bốn.
– Bắp cải trắng, 10 bẹ, rửa sạch, xắt làm ba, làm tư.
– Củ sắn, 1 củ, lột vỏ, rửa sạch, xắt từng lát mỏng.
– Củ cải trắng, 1 củ, rửa sạch, xắt từng lát mỏng.
Tất cả bỏ vô nồi, đổ nước cao hơn các phần trên 30%, nấu cho rục. Để nguội, đổ vào chai thủy tinh, dùng làm nước nêm để thế đường.
10. Phân lượng muối và mè:
– Tuổi từ 30 đến 40 : 25 muỗng mè, 1 muỗng muối.
– Tuổi từ 41 đến 50 : 40 muỗng mè, 1 muỗng muối.
– Tuổi từ 51 dến 60 : 50 muỗng mè, 1 muỗng muối.
– Tuổi từ 61 trở lên: 60 muỗng mè, 1 muỗng muối.
Người trẻ, từ 30 đến 50 tuổi một ngày chỉ sử dụng tối đa 1,5 muỗng cà phê muối.
Người từ 61 đến 70 tuổi, một ngày chỉ sử dụng 1 muỗng cà phê muối.
Tính tất cả các muối đã nêm vào thức ăn. Người cao tuổi hơn, càng ít muối càng tốt, nhưng phải có muối, nếu thiếu muối người già dễ bị xỉu.
11. Làm nước Tương cốt:
– 1 cái lu hay khạp.
– 6 ký đậu nành (hấp cho mềm.).
– 6 ký muối hột (muối có thể thêm hay bớt miễn là sao đo độ mặn đủ 2 độ là được), nấu sôi, lóng cặn, lọc lấy nước sạch, đổ vào lu hay khạp, vừa bằng với đậu nành).
– Nước muối đo đúng 2 độ (mua độ kế ở chợ Kim Biên).
– 1 ký bột mì (cây mì) rang cho vàng.
– 1 bọc meo, trộn với bột mì để từ 1 ngày 1 đêm trở lên, canh màu meo chuyển đến màu lá mạ non sang màu xanh lông chim két là rắc vô khạp đựng đậu và nước muối, trộn đều (meo và bột mì đang ở màu vàng hay màu đỏ là còn độc, v.v…)
– Để 5 ngày, châm nước muối thêm cho ngập đậu, gài nang tre cho đậu chìm sâu xuống 5 phân.
– Phơi ngoài nắng, tối đậy nắp lu hơi hở, mưa đậy nắp kín, ban ngày dỡ ra.
– Bốn tháng sau chắt lấy nước, đậu bỏ vào bao vải, vắt lấy hết nước cốt, tất cả đều lược lại cho sạch cặn, muốn thật kỹ, nấu lại vừa sôi, bỏ vào khạp khác, khạp nhơ rữa sạch và sát trùng kỹ bằng nước sôi, để chỗ hanh nắng, đậy nắp kín, băng keo giấy lại, mỗi tháng thăm chừng 1 lần, từ 6 tháng trở lên, nước tương bắt đầu keo dần lại, là ăn từ từ được, làm tương tỏi là lấy từ lúc nầy. Nước tương cốt này để càng lâu càng tốt, vì nó càng dương. Dưỡng sinh gọi là tương Tamari nguyên dương. Khi để lâu, để trong mát.
12. Súp bổ dưỡng ăn chay:
– Đậu đỏ, 5 grs (nấu mềm chắt bỏ nước).
– Đậu trắng, 5 grs (nấu mềm chắt nước).
– Bí đỏ, 10 grs (xắt bỏ võ).
– Phổ tai, 5 grs (xắt nhuyễn).
– Hột sen, 5 grs.
– Sâm Hà Nội, loại cứng, (xắt từng lát mỏng).
Sáu thứ trên nấu chung cho thật rục, nêm muối vừa ăn và chất ngọt của cốc loại, vừa đủ ngọt.
Đây là chất bổ dưỡng thật cao, dùng cho người ăn chay, bệnh mau hồi phục sức.
13. Súp bổ dưỡng ăn mặn:
– Đậu đỏ, 5 grs (nấu mềm chắt bỏ nước).
– Đậu trắng, 5 grs (nấu mềm chắt bỏ nước).
– Bí đỏ, 10 grs (xắt bỏ võ).
– Phổ tai, 5 grs (xắt nhuyễn).
– Hột sen, 5 grs.
– Thịt bò, 10 grs, (hoặc thịt gà, hay thịt tôm, loại tôm lớn, ướp mặn trước xắt từng lát mỏng, (không được sử dụng thịt heo, vì thịt heo cực âm).
Các thứ trên nấu cho thật rục, nêm muối vừa ăn, nêm chất ngọt vừa ngọt.
Đây là chất bổ dưỡng thật cao, dùng cho người bị bệnh, hồi sức nhanh, người trúng thực mau lấy lại sức, là thuốc bổ cho người già yếu.
✍️ Mục lục: Cẩm nang Ăn uống 👉 Xem tiếp
