Kinh Sách

Bát Nhã Tâm Kinh

✍️ Mục lục: Bát Nhã Tâm kinh

Phần 1: Giải thích Tổng quát

I. Ðề mục kinh.

Có bảy lối lập đề (thất chủng lập đề) cho ba tạng và 12 bộ kinh do Phật thuyết giảng.

  1. Ðơn nhân lập đề. Sao là đơn nhân lập đề? Tỷ như kinh Phật Thuyết A-di-đà; Phật là một người, A-di-đà cũng là một người, đây gọi là đơn nhân (lấy tên một người) lập đề (đặt tên kinh ).
  2. Ðơn Pháp lập đề. Như kinh Niết Bàn, là chỉ cho tướng Pháp. Danh từ Niết Bàn ám chỉ Pháp nên được dùng cho tên kinh.
  3. Ðơn dụ lập đề. Ở đây chuyên lấy thí dụ làm đề mục, như kinh Phạm Võng. Chỉ có một tỷ dụ đơn độc, là thí dụ cho gì? Số là, nội dung kinh Phạm Võng thuyết về giới luật mà giới luật thì được ví như một màng lưới (“võng” nghĩa là lưới) treo trước điện của vua Ðại Phạm Thiên (Phạm tức Phạm thiên). Màng lưới này, coi như một vật trang trí, có hình ống tròn, khắp xung quanh là những lỗ thủng. Tại mỗi lỗ thủng của màng lưới có gắn một viên ngọc quý và trên mặt ngọc thì có lỗ xuyên vào. Ngọc quý phát ra ánh sáng xuyên qua các lỗ với nhau, do đó ánh sáng của viên ngọc này chiếu qua viên ngọc kia, ánh sáng viên ngọc kia phản chiếu lại viên ngọc này, cứ như vậy toàn bộ chiếu sáng lẫn nhau.

Ánh sáng của bạn chiếu qua tôi, ánh sáng của tôi chiếu qua bạn, ánh sáng giao nhau mà không hề đối nghịch nhau. Cũng chẳng thể nói rằng, ánh sáng của bạn không được chiếu qua tôi, hoặc ánh sáng của tôi không thể chiếu qua bạn – không có chuyện như vậy.

Nói cách khác, giới luật cũng giống như các ánh sáng của các viên bảo ngọc quý chiếu sáng lẫn nhau. Nếu các vị tuân thủ điều giới này tức có một tia sáng phát ra, tuân thủ điều giới kia cũng lại có một tia sáng phát ra. Tất cả mỗi 10 điều giới trọng với mỗi 48 điều giới khinh, đều cũng sẽ phát ra các tia giới sáng, giống như ngọc quý trên màng lưới ở cung trời vua Phạm Thiên!

Tại sao mỗi lỗ thủng lại gắn ngọc quý như vậy? Màng lưới này vốn dụ cho giới của Bồ-tát. Ðây nói trước khi chúng ta thọ và trì giới Bồ Tát thì nó vốn là những lỗ thủng. Sao biết được, đó là lỗ thủng? Vì nó bị rỉ, rịn chảy ra, cũng gọi là “lậu”. Nếu các vị tuân thủ giới thì chỗ đó sẽ là viên ngọc quý chiếu sáng, còn phạm giới thì chỗ đó có lỗ thủng.

Các tia sáng chiếu qua chiếu lại, lỗ lỗ tương thông, dụ cho Phật Pháp. Tâm của Phật, cùng với tâm của chúng sanh và của hàng Bồ-tát, phản ảnh qua lại với nhau. Phật sở dĩ thành Phật là do giữ giới tu hành. Bồ-tát cũng do giữ giới mới thành Phật được và chúng sanh nếu muốn thành Phật cũng phải từ chỗ giữ giới mà tu. Ðiều này biểu thị sự biến hóa vô cùng tận, do đó màng lưới được đưa ra làm thí dụ để đặt tên kinh, tức kinh Phạm Võng.

Ba loại đề mục vừa kể có tính cách đơn độc, chỉ lấy một món để đặt tên kinh nên gọi là đơn tam.

  1. Nhân Pháp lập đề. Thí dụ như kinh Văn Thù Vấn Bát-nhã, Văn-thù là người, Bát-nhã là Pháp, là tướng của Pháp. Lối này lấy tên người và tên Pháp để làm đề mục kinh.
  2. Nhân dụ lập đề. Như kinh Như Lai Sư Tử Hống, Như-lai là người, sư-tử hống là một thí dụ cho Phật thuyết Pháp ví như tiếng rống của loài sư-tử vì có câu nói: “Sư tử rống lên, muôn vật đều hãi sợ” (Sư tử nhất hống, bách thú giai cụ).
  3. Pháp dụ lập đề. Ðây là trường hợp của bộ kinh này. “Bát-nhã Ba-la-mật-đa” là Pháp, “tâm” là dụ, và lối này lấy tên Pháp và dụ để làm đề mục kinh.

Ba loại đề mục trên, gọi là phức tam, sao gọi phức tam? Phức là trùng phức, kép cũng là hai loại ghép lại với nhau, cũng có thể nói là trùng tam.

  1. Nhân Pháp dụ lập đề. Lối lập đề này gồm đầy đủ cả ba món, người, Pháp và dụ, như kinh Ðại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm.

“Ðại Phương Quảng” là Pháp, “Phật” là người, “Hoa Nghiêm” là dụ; biểu thị lấy nhân hoa của vạn hạnh để trang nghiêm cái quả đức vô thượng. Ðại phương quảng là cái thể của Pháp, còn Hoa Nghiêm biểu thị cái dụng. Nghĩa của Ðại Phương Quảng là rộng lớn, Phật đã tu Pháp Ðại Phương Quảng này để thành Phật. Nhân hoa của vạn hạnh tức là lấy hoa làm nhân trong Pháp tu lục độ vạn hạnh; quả đức vô thượng chỉ đức hạnh của quả vị Phật. Dùng vạn hạnh gieo nhân, coi như hoa để trang nghiêm đức hạnh Phật quả, một cái quả vô thượng.

Trên đây đã giảng xong về bảy lối đặt tên kinh.


妙智方可達彼岸 真心自能契覺源 法喻立名超對待 空諸法相體絕言

宗趣原來無所得 力用驅除三障蠲 熟酥判作斯教義 摩訶逆轉般若船

Kệ tụng

Diệu trí phương khả đạt bỉ ngạn
Chân tâm tự năng khế giác nguyên
Pháp dụ lập danh siêu đối đãi
Không chư Pháp tướng thể tuyệt ngôn.

Tông thú nguyên lai vô sở đắc
Lực dụng khu trừ tam Chướng quyên
Thục tô phán tác tư giáo nghĩa
Ma ha nghịch chuyển bát-nhã thuyền [3]

Dịch nghĩa

Diệu trí đưa người tới Bờ kia
Chân tâm tự hợp với nguồn giác
Pháp dụ thành tên siêu đối đãi
Chư Pháp không tướng tuyệt ngôn ngữ

Tông chỉ vốn hướng vô sở đắc
Sức mạnh tận trừ ba Chướng duyên
Sửa chính minh định Kinh giáo nghĩa
Ma ha nghịch chuyển Bát nhã.

Nay hãy dùng bài kệ tụng mà tôi đã sáng tác để giải thích tên kinh. Sau này cứ mỗi đoạn kinh văn cũng sẽ dùng 8 câu kệ tụng để thuyết giảng.

Tám câu trên giảng nghĩa đề mục “Tâm kinh Bát-nhã Ba-la-mật-đa” chiếu theo nguyên tắc Ngũ Trùng Huyền Nghĩa.

 1) Thích danh.

Diệu trí phương khả đạt bỉ ngạn

Diệu trí là gì? Bát-nhã tức là diệu trí. Ðáo bỉ ngạn là Ba-la-mật-đa. Cho nên quý vị dùng diệu trí bát-nhã mới có thể tới bờ bên kia.

 Chân tâm tự năng khế giác nguyên

 Chân tâm là chỉ cái chữ tâm này, cũng là chỉ Bát-nhã. Như đã có diệu trí huệ bát-nhã, tức có loại chân tâm này, thì tự nhiên sẽ khế hợp với nguồn giác. Khế hợp với nguồn giác là khế hợp với bổn giác của Phật, đắc được thể của bổn giác. Khế hợp hay tương hợp nghĩa là hợp lại thành một phiến.

Pháp dụ lập danh siêu đối đãi

Ðề mục Bát-nhã Ba-la-mật-đa thuộc loại Pháp dụ lập danh, tức là lấy tên của Pháp và của dụ ghép lại để đặt tên kinh. Bát-nhã Ba-la-mật-đa là Pháp, Tâm là dụ.

Bát-nhã là gì? Bát-nhã có ba loại: văn tự bát-nhãquán chiếu bát-nhã, hay thực tướng bát-nhã. Từ văn tự bát-nhã mà sanh ra quán chiếu bát-nhã, rồi từ quán chiếu bát-nhã mới có thể đưa tới chỗ khế hợp với bổn thể của thực tướng bát-nhã. Thực tướng bát-nhã gọi là trí huệ cứu cánh, cũng gọi là diệu trí huệ, cũng gọi là trí huệ triệt để. Lại có thể nói là loại trí huệ triệt để này đưa hành giả về tới trí huệ “nhà”, hay cũng có thể nói là trí huệ của Phật.

Cái trí huệ này còn được gọi là gì nữa? Là cái chân tâm. Chân tâm cũng là trí huệ, trí huệ cũng là chân tâm. Chữ Phạn “bát-nhã” phiên dịch ra tiếng Hán thành “chân tâm”. kinh này là tâm của cái tâm, một cái tâm của trong 600 quyển kinh Ðại Bát-nhã. Nói cách khác, bộ kinh này lại cũng là tâm trong cái tâm nữa.

Bát-nhã là tâm, tức tâm trong cái tâm, tâm trong tâm lại cũng là tâm. Vì lẽ này, kinh được mệnh danh là “Tâm kinh ”. kinh này là tâm của bát-nhã (Bát-nhã Tâm kinh ), mà chính chữ bát-nhã là tâm, nên nó là tâm trong cái tâm. Cũng vì bát-nhã vốn phiên dịch thành một cái chân tâm, nên kinh Ðại Bát-nhã có thể gọi là kinh Ðại Chân Tâm chớ không phải là giả tâm. Chúng ta sẽ thấy kinh giảng về sự thực dụng của diệu lý này.

Bộ Tâm kinh này là Bát-nhã tâm trong tâm. Tuy Tâm kinh này chỉ gồm vỏn vẹn có hai trăm sáu mươi chữ, nhưng trong kinh Bát-nhã, nó được ví như cái tâm là cái chủ thể, cho nên mới nói nó là tâm của cái tâm. Nay là cho thêm vào một chữ tâm là tâm trong tâm, cho nên gọi là Tâm kinh. Ðây chính là chân tâm trong chân tâm, do đó mới dùng một chữ Tâm này. Pháp này tức là Bát-nhã Ba La Mật Ða, là Pháp đáo bỉ ngạn. “Tâm” tức là một thí dụ, kinh lấy Tâm làm dụ, ngụ ý rằng kinh được ví như trái tim, cái chủ thể trong thân của con người, không có bộ phận nào quan trọng hơn nó, nó là tuyệt đối, không có gì sánh kịp.

Còn Pháp – tên kinh thuộc loại “Pháp dụ lập đề” – là Bát-nhã Ba-la-mật-đa, tức là Pháp đưa đến bờ bên kia. Như vậy đây là một Pháp tuyệt đối, vượt lên trên mọi sự đối đãi, đạt tới cảnh giới tuyệt đối vậy.

2) Hiển thể.

Không chư Pháp tướng thể tuyệt ngôn

Thể của bộ kinh này là gì? Thể của nó là không, không đối với mọi Pháp tướng, và nghĩa của câu tụng “không chư Pháp tướng” cũng tương đương với nghĩa của câu kinh “chư Pháp không tướng”. Không tướng nghĩa là không có hình tướng. “Không chư Pháp tướng” chính là thể của kinh này.

Tuyệt ngôn nghĩa là không có gì để nói ra cả. Bởi vì nếu thể của nó là không đối với mọi tướng, thì cái gì cũng không có, đâu còn gì để nói nữa. Thể tuyệt ngôn là lìa tướng ngôn ngữ, lìa tâm duyên tướng, lìa tướng văn tự, lìa hết thảy các tướng, đó là nhất thiết Pháp vậy.

3) Minh Tông.

Tông thú nguyên lai vô sở đắc

Câu kệ thứ 5 định rõ Tông. Vậy kinh này lấy gì làm Tông chỉ? Lấy lẽ vô sở đắc làm Tông chỉ. Trong kinh có câu “vô trí diệc vô đắc”. Tông này hướng tới cái gì? Hướng tới vô sở đắc.

Bây giờ ta hãy lấy chuyện Thế Gian để giảng Phật Pháp. Ví như một cá nhân – tức là cách nói thông thường về một người – cá nhân này gọi là cá nhân, cũng như nói bộ kinh này là kinh. Cá nhân đó tên là gì? Tên là Trương Tam hoặc là Lý Tứ, chẳng hạn, đó là thích danh, nói rõ về cái tên.

Người đó nay đã có tên, vậy ông Trương Tam này như thế nào? Cao hay thấp? Da có trắng không? Người thì mập, hay ốm? Có hình thể như thế nào? Bẩm sanh ra có đầy đủ tai, mắt, mũi… không? Ðó là nghiêng cứu về thể, do đó có danh từ hiển thể.

Sau là muốn minh Tông. Minh Tông thì như thế nào? Như ông ta có dáng người rất cao, đại khái có thể làm các việc nặng nhọc. Ông ta là người có học vấn, có thể làm thư ký được. Ông ta có Tông chỉ, xu hướng gì? Hồi trước ông ta làm nghề gì? Nay có thể làm được công việc chi? Ðó đều là minh Tông.

4) Luận dụng.

Lực dụng khu trừ tam Chướng quyên

Lực dụng ý nói về năng lực khả dụng, năng lực đó có thể dùng vào việc gì? Tâm kinh Bát-nhã Ba-la-mật-đa có thể làm nên công trạng gì? Lực dụng của kinh chính là phá trừ ba Chướng.

Cái gì là ba Chướng? Thứ nhất là báo Chướng, thứ hai là nghiệp Chướng và thứ ba là phiền não Chướng.

Báo Chướng lại phân thành y báo và chánh báo. Chánh báo là chỉ chính cái thân này đương thọ báo, tức cái thân thể này của chúng ta. Y báo có nghĩa là nương tựa vào đó để sanh sống mà thọ báo, cũng như thức ăn, quần áo, nơi ở, v. v…

Nói về chánh báo của người tức là nói đến cái thân thể này tốt hay xấu. Như có người bẩm sanh có được tướng mạo rất tuấn tú, đẹp đẽ vẹn toàn, khiến mọi người trông thấy đều ưa thích, ái kính, có thể nói người đó nổi bật, trội hơn người.

Hoặc như người này thật có trí huệ, người kia rất có thiện căn. Ðây lại phân ra thành hai loại. Như có người có trí huệ mà không có thiện căn, thì như thế nào? Ða số những hạng người này gốc từ yêu ma quỷ quái, sanh ra làm người, tỷ như số sơn tinh trên núi biến thành yêu quái, lại có ma rừng, ma núi (si), ma quỷ (mị) yêu tinh (võng, lưỡng), số quỷ thần này làm quỷ thần đã lâu năm, hơn nữa các loại lão yêu tinh ăn thịt người. Lão yêu tinh cũng chết đi lên làm người. Chúng sẽ có chút điểm thông minh so với người thường. Hay các quỷ thần của loài cây rừng, gỗ đá, lâu ngày biến thành tinh. Chúng có thể ăn thịt người và sau khi chết sinh ra làm kiếp người, nên chúng vốn có ít nhiều trí thông minh. So với người ta chúng là hạng khá thông minh. Chỉ có hành động của chúng là không thông minh, vì chúng chuyên làm những chuyện hồ đồ, chuyên môn làm điều trái khuôn phép, những việc có hại cho người khác là chúng thích làm. Cho nên làm nhiễu loạn xã hội trật tự mà chỉ sợ thiên hạ không loạn. Loại này là có trí huệ mà không có thiện căn.

Lại có người có thiện căn mà không có trí huệ. Người có thiện căn vì kiếp trước biết làm điều lành, nhưng lại không nghiên cứu kinh điển nên thành ngu si không có trí tuệ.

Nói về chánh báo thì có thể kể như những người có tướng mạo đẹp đẽ, đã sống lâu lại được hưởng phú quý hay những người sanh ra xấu xí, thọ mạng ngắn ngủi, mới ít tuổi đã chết. Tất cả đều do tiền nhân hậu quả, tức tạo nhân kiếp trước nên sau này phải thọ quả báo.

Y báo thuộc về những vấn đề ăn, mặc, chỗ cư trú, cũng do nhân quả chi phối. Kiếp trước gieo nhân lành, kiếp này nhận quả tốt; kiếp trước gieo nhân ác, kiếp này nhận quả xấu. Xem như vậy thì phàm làm gì chúng ta cũng phải cẩn thận, tránh tạo nhân ác thì kiếp sau sẽ không gặp quả báo xấu. Báo Chướng là như vậy.

Nghiệp Chướng. Nghiệp là sự nghiệp, là công nghiệp. Bất luận là người xuất gia hay tại gia, ai cũng phải có một sự nghiệp gì và trong khi làm phận sự tất có lúc sẽ gặp nhiều vấn đề khó khăn, khiến cho buồn bực nẩy sanh, tạo thành những cảnh ngộ không vừa lòng. Loại này gọi là nghiệp Chướng.

Phiền não Chướng. Chúng ta ai cũng có phiền não cả. Vậy chúng từ đâu tới? Chúng phát sanh từ tâm tham, tâm sân và tâm si. Trong lòng có phiền não là bởi lý do gì? Bởi tham mà không thỏa mãn được tham nên sanh phiền não. Bởi có tâm sân nên khi gặp điều không vừa ý thì sanh phiền não. Bởi ngu si, không biết rõ sự tình nên sanh phiền não.

 Tại sao các vị sanh phiền não? Bởi tâm mạn, một loại tính kiêu ngạo, khinh rẻ mọi người nên từ đó mà sanh phiền não. Bởi lý do gì nữa? Bởi có tâm nghi, gặp bất cứ sự việc gì cũng hoài nghi, nên sanh ra phiền não.

Lại vì sao mà có phiền não? Bởi vì có tà kiến, do sự nhận thức không chân chánh mà sanh phiền não. Nếu như cái thấy và cái biết của quý vị là chân chánh, tức quý vị có trí huệ chân chánh, mọi sự việc đều được nhận thức rõ một cách minh bạch, trước sau đều sáng tỏ, thì lúc đó quý vị mới không có phiền não. Do đó phiền não đều do tham, sân, si, mạn nghi, tà kiến phát sanh ra.

Bộ Tâm kinh này có thể giúp ta phá trừ ba Chướng: báo Chướng, nghiệp Chướng và phiền não Chướng. Làm sao phá trừ? Bởi kinh này có trí huệ chân chánh, có trí huệ diệu mầu, là tâm chân chánh như như bất động của chân tâm, do đó nó phá trừ được ba Chướng. Nếu chúng ta hiểu thấu Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm kinh, chúng ta mới có được trí huệ chân chánh, và phá được ba Chướng kể trên.

5) Phán giáo tướng.

Thục tô phán tác tư giáo nghĩa

Chữ Hán “thục tô” nghĩa là váng sữa chín (butter, bơ). Chữ “thục tô” minh định giáo nghĩa của Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm kinh. Thời “Thục tô” là thời thuyết Pháp thứ tư của đức Phật, còn được gọi là thời “Bát-nhã”.

Phật thuyết Pháp được chia thành 5 thời và gồm 8 loại giáo lý (ngũ thời bát giáo). Ðây là cách phân định của Ðại sư Trí Giả thuộc Tông Thiên Thai.

Nay tôi căn cứ vào hai loại trí huệ “quyền” và “thật” để nói về 5 thời thuyết Pháp:

Thời Hoa Nghiêm (Avatamsaka). Phật nói đầu tiên là Pháp này, trong khoảng thời gian 21 ngày, và nội dung gồm một quyền, một thật. Một loại thật Pháp, một loại thật trí, một loại quyền trí. Sao nói là một loại thật trí, một loại quyền trí? kinh Hoa Nghiêm giảng về ý nghĩa của Pháp giới, có sự Pháp giới, lý Pháp giới, lý sự vô ngại Pháp giới, sự sự vô ngại Pháp giới. Tuy kinh này thuyết cho các vị Bồ-tát, nhưng ý nghĩa giáo lý gồm cả tính cách phương tiện quyền xảo cũng như tính cách thật trí, trí huệ chân thật của Phật Pháp. Ðó là đặc tính của thời Hoa Nghiêm: một quyền, một thật.

Thời A-hàm (Agama). Ðây là thời Pháp thứ hai, duy quyền vô thật, chỉ có quyền Pháp mà không thật Pháp. Quyền giáo là dùng những phương cách khéo léo để dẫn dắt chúng sanh. Vào thời kỳ này chúng sanh có thể ví như trẻ nhỏ, chưa hiểu được Phật Pháp nên phải dùng đủ cách khéo léo khuyến dụ, để hóa độ chúng sanh. Do đó trong thời thứ hai chỉ có quyền Pháp, không có thật Pháp, không có thật trí.

Thời Phương Ðẳng (Vaipulya). Ðây là thời Pháp thứ ba. Giáo lý của thời Phương Ðẳng gồm ba phần quyền và một phần thật. Nói vậy là nghĩa gì? Số là vào thời thứ tư này cả 4 loại giáo là tạng giáo, thông giáo, biệt giáo và viên giáo đều được thuyết giảng. Có câu: “Ðàn thiên xích tiểu, thán đại bao viên”đàn thiên là thiên lệch không đúng; xích tiểu là bài xích cái nhỏ, ý nói cái Tiểu thừa của anh cũng là sai rồi; thán đại là tán thán Ðại thừa; bao viên là khen tụng viên giáo. Sao gọi là Phương Ðẳng? Bởi cùng nói về 4 loại giáo lý (tứ giáo) đồng thời giảng đạo lý của bốn giáo, cho nên nói có ba loại quyền Pháp, tức tạng, thông, biệt và một loại thực Pháp tức là viên giáo.

Thời Bát-nhã (Prajna). Ðây là thời Pháp thứ tư, gồm hai loại quyền và một loại thật. Hai loại quyền là thông giáo và biệt giáo, một thật là viên giáo.

Thời Pháp Hoa Niết Bàn là duy thật vô quyền. Pháp ở thời này không còn tính cách quyền nữa, hoàn toàn là thực, nên chỉ có thực trí mà không có quyền trí, Pháp có tính cách thực chớ không phải phương tiện quyền xảo.

Năm thời luận bàn ở trên căn cứ vào ý nghĩa quyền và thật. Giảng kỹ lưỡng cả năm thời sẽ đòi hỏi nhiều thời gian, do đó mỗi lần giảng kinh thì giảng nhiều thêm một chút, quý vị nghe giảng nhiều một chút tức sẽ hiểu biết thêm một chút.

Ma ha nghịch chuyển bát-nhã thuyền

Trong tiếng Phạn, ma-ha có nghĩa là lớn; nghịch chuyển tức là quay ngược lại. Quay ngược cái gì? Quay ngược con thuyền bát-nhã. Chắc quý vị cho rằng nếu quay ngược thuyền thì không còn bát-nhã nữa, không phải vậy. Quay ngược đây là quay cái gì? Quay ngược cái ngu si sẽ có bát-nhã. Ví như cho con thuyền đi ngược giòng nước, cần phải tốn công sức, chớ không phải là điều dễ dàng. Dầu quý vị không phải trải qua thời gian của ba đại a-tăng-kỳ kiếp thì ít nhất cũng phải qua hết một đời, hai đời, ba đời v. v. . mới có thể đạt được trí huệ chân chánh này.

– “Ồ!” Quý vị có thể nói: “tu như vậy lâu quá, chúng tôi không tu nữa”.

Không tu cũng không ai ép buộc, ép buộc là không phải đạo. Cho nên đệ tử của tôi, ai thích đọa lạc thì cứ việc đọa lạc. Ai không muốn quay ngược thuyền bát-nhã, thì cứ tùy ý thuận theo giòng nước, trôi xuôi về hạ lưu, càng xuôi càng đi xa. Còn như quý vị muốn quay ngược thuyền, thì sẽ đi ngược giòng lên trên, còn như quý vị không muốn thì quý vị sẽ xuôi giòng đi xuống. Hãy coi thử! Quý vị hướng thượng lưu đi lên hay vẫn là xuôi giòng hạ lưu đi xuống.

“Bát-nhã Ba-la-mật-đa” là Pháp, “tâm” là dụ, “kinh ” là nói bộ kinh này. Tên kinh có thông danh và biệt danh. Thông danh thì gọi là “kinh ”, tiếng gọi chung của tất cả các kinh, còn biệt danh là tên dùng để chỉ riêng một bộ kinh này, các kinh khác thì không có tên đó. Biệt danh của kinh này Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm, ngụ ý nói Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm kinh là tâm trong cái tâm bát-nhã.

kinh là gì? kinh nghĩa là Pháp kinh thường, không biến đổi, không cải sửa được. Một chữ không thể bỏ, một chữ không thể thêm, đó là một Pháp kinh thường.

Lại nữa, kinh còn được hiểu như một “con đường”, con đường mà người tu bắt buộc phải đi qua. Quý vị có muốn tu không? Vậy quý vị phải đi theo đường này. kinh cũng là đường mòn, quý vị phải bước chân vào, vì nếu quý vị không đi vào cỏ sẽ mọc, đường mòn sẽ thành hoang vu. Quý vị đi vào thì đường đi sẽ mỗi ngày một phẳng phiu, mỗi ngày một quang minh. Tại sao nói hoang vu? Tức bộ kinh này bị bỏ quên thành hoang phế, cũng có ngụ ý nói quý vị đã quên kinh. Ví dụ quý vị đã thuộc lòng kinh rồi, khỏi cần nhìn vào bổn cũng đọc được, nhưng nếu qua thời gian ba, năm tháng không tụng nữa, quý vị cũng sẽ quên kinh, chẳng khác gì con đường bị bỏ hoang vậy.

Tụng niệm kinh mang lại lợi ích gì? Tụng kinh chẳng được lợi gì, mất nhiều thời gian, mất nhiều khí lực. Vậy chớ tụng hết bộ kinh này, từ đầu chí cuối, làm hao tổn khí lực, thời gian và tinh thần mà cũng chẳng thấy có lợi gì? Các vị cư sĩ ơi! Ðừng có nghĩ ngợi ngu si như vậy. Ðiều mà quý vị cho là lợi ích, chẳng phải là lợi ích chân thật. Phàm cái gì có hình tướng đều là hư dối. Có hình có tướng để các vị trông thấy thì chẳng phải điều lợi ích rồi.

Vậy điều lợi ích không trông thấy được thì như thế nào? Như chúng ta tụng kinh được một lần, thì cũng một lần tự tánh của chúng ta được tẩy rửa. Ví dụ như tụng kinh Kim Cang, tụng xong một biến kinh, ý nghĩa kinh được hiểu thêm một phần, tụng hai biến thì hiểu thêm chút nữa, ba biến thì ý nghĩa lại càng thêm minh bạch. Càng tụng kinh thì trí huệ của chúng ta càng gia tăng, nhưng gia tăng bao nhiêu phần chúng ta đâu có thấy. Có chăng chỉ là một cảm giác được ở bên trong. Do đó tụng kinh có lợi như thế nào thì không thể trình bày ra hết được.

Vả lại, mỗi lần tụng niệm là mỗi lần bớt phiền não. Hãy nhớ đừng để vì tụng kinh mà lại sanh ra phiền não. Chúng ta không nên nói: “Anh tụng như vậy không được, quá mau, tôi theo không kịp”, hoặc giả bảo rằng: “Anh tụng quá chậm đi, làm tôi cứ phải chờ anh”, hoặc lại nói: “Giọng tụng của anh khó nghe, nghịch tai tôi qúa đi! Quý vị không nên dụng công phu trên các điểm này, huống chi mọi người đều là sơ cơ, không phải người nào cũng biết tụng. Dầu biết hay không biết tụng, mọi người đều cũng phải tụng chung với nhau, như vậy đó! Cùng nhau mà huân tu. Không nên đại chúng cùng ở chung với nhau rồi anh bắt lỗi tôi, tôi bắt lỗi anh, là điều ta không nên làm. Nếu thật sự có lỗi, chúng ta nhất định phải kiếm ra, bởi nếu không vậy, mỗi ngày lỗi càng tích tụ nhiều thêm tức tu hành sẽ không tương ưng với đạo.

Cho nên tụng kinh, là sự trợ giúp đối với tự tánh. Trợ giúp cái gì? Tức chính là khai mở trí huệ. Tụng kinh Kim Cang khai được trí huệ, tụng Tâm kinh thì càng được khai mở trí huệ hơn. Cho nên, quý vị nói tụng kinh không có lợi ích gì, thật ra sự lợi ích của tụng kinh là lớn nhất. Quý vị không thấy nên mới là cái lợi ích thật sự, còn cái mà quý vị thấy được, đó hoàn toàn chỉ là lớp võ bên ngoài. Ðây là ý nghĩa của việc tụng kinh.

Chữ “kinh ” còn có bốn nghĩa khác nữa, đó là quán, nhiếp, thường, Pháp.

“Quán’ nghĩa là xuyên qua, ngụ ý rằng bao nhiêu nghĩa lý đều kết lại với nhau giống như lấy một cái dây xâu thành một chuỗi.

“Nhiếp” là bắt lấy, tóm thâu lấy các căn cơ để hóa độ, vì kinh có thể nhiếp thâu mọi căn cơ, như tùy theo căn bệnh mà cho thuốc chữa trị. Nhiếp như thế nào? Có phải tôi thường giảng về đá nam châm sao? Nó có đặc tính hút chất sắt. Ðặt đá nam châm ra xa mà nó cũng hút chất sắt lại gần. kinh cũng giống như cục đá nam châm còn chúng sanh thì cứng và cang cường như là sắt, hay nổi nóng và có nhiều tật xấu, nhưng khi được nam châm của kinh nhiếp thâu, tính tình dần dần thành nhu nhuyễn, tật xấu sẽ không còn nữa.

“Thường” nghĩa là thường hằng không bao giờ thay đổi, vĩnh viễn như vậy là vô thủy vô chung, xưa cũng như nay, đều phải nhờ vào kinh điển để tu hành.

“Pháp” là phương Pháp, ý nói đây là phương Pháp dùng để tu hành. Vào thời quá khứ, thời hiện tại, thời vị lai, thời nào cũng phải theo phương Pháp đó. Có câu nói: Tam thế đồng tôn gọi là Pháp, cổ kim bất biến gọi là thường.

kinh còn được coi như dây mực. Thợ mộc ngày xưa có một dụng cụ, bên trong là một cuộn dây tẩm mực mầu đen. Muốn vẽ một đường thẳng trên một mặt bằng nào đó, người ta chỉ cần kéo dài căng thẳng cuộn dây được tẩm sẵn mực đó rồi lấy ngón tay bật sợi dây xuống thì dây sẽ in lằn mực xuống thành một đường thẳng. Không giống như thời bây giờ người ta dùng thước kẻ và cây viết chì để thay thế. Tóm lại, kinh là quy củ, là mực thước. Chúng ta hiện nay nghiên cứu Bát-nhã thì phải theo quy củ của Bát-nhã, quý vị giữ quy củ của Bát-nhã tất sẽ có ngày khai mở trí huệ.

✨II. Người dịch.

Trên là giảng sơ lược về đề của kinh. Bây giờ nói về người dịch. Chúng ta ngày nay hiểu bộ kinh này chính là nhờ vào công ơn của người đã phiên dịch. Nếu không, e rằng tới nay chúng ta cũng chưa thấy được kinh này, có khi còn chưa nghe đến tên kinh nữa. Thấy, nghe về bộ kinh này đều không có, vậy thì lấy đâu ra phương Pháp nói trong kinh để nương theo mà tu hành? Cho nên sẽ không cách nào tìm ra đường lối tu hành. Do đó chúng ta phải hết lòng cảm tạ người phiên dịch. Từ ngày kinh được phiên dịch, rồi lưu truyền cho đến chúng ta ngày nay, trải qua nhiều đời, biết bao nhiêu người đã được dịch giả từ bi giáo hóa, cho nên công đức của người dịch kinh thật là không thể nghĩ bàn và vô cùng vĩ đại.

Vậy ai đã phiên dịch bộ Tâm kinh Bát-nhã Ba-la-mật-đa này? Ðó là Ðường Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang. Ðường là triều đại nhà Ðường. Tam Tạng chỉ ba tạng: tạng kinh, tạng Luật và tạng Luận. Tạng kinh thì gồm có rất nhiều kinh, tạng Luật giảng về giới luật, tạng Luận giảng đạo lý của kinh điển.

Danh từ Pháp sư có nghĩa là lấy Pháp làm thầy; lấy Pháp để bố thí cho người cũng gọi là Pháp sư. Còn như lấy Phật Pháp trong cả Ba tạng làm thầy thì gọi là Tam tạng Pháp sư; lấy Ba tạng kinh điển để giáo hóa chúng sanh cũng gọi là Tam tạng Pháp sư. Nay vị Pháp sư mà chúng ta nói ở đây, tức là ngài Huyền Trang, Ngài vừa lấy ba tạng kinh điển làm thầy, lại vừa đem ba tạng kinh điển để giáo hóa chúng sanh. Tức Ngài là vị kiêm đủ cả hai nghĩa nói trên.

Huyền Trang là tên của Pháp sư. Căn cơ của Ngài phi thường thâm hậu, vô cùng huyền diệu, có một cảnh giới không thể nghĩ bàn. Tại Phật giáo cận đại, có thể nói Ngài là một vị Pháp sư vĩ đại. Tại sao chúng ta nói như vậy? Vào thời đi thỉnh kinh của Ngài, làm gì có phương tiện giao thông nhưmáy bay, xe lửa hay thuyền máy? Phương tiện giao thông duy nhất của ngài là ngựa, Ngài cỡi ngựa từ Tân Cương băng qua Trung Á để tới Ấn-độ. Lộ trình dài nhất, xa nhất và đầy gian khổ, có thể nói không ai dám mạo hiểm dấn thân như Ngài.

Thời gian trước ngày du hành thỉnh kinh, là thời gian ngài Huyền Trang mỗi ngày tập luyện chạy bộ, từ sáng đến tối đều tập đi bộ. Vì ở chùa không có núi để tập leo trèo, Ngài phải lấy ghế và bàn chồng lên nhau, rồi hàng ngày tập nhảy từ ghế lên bàn, từ bàn này qua ghế kia, cứ như thế bò leo như người ta leo núi. Cũng do công phu khổ luyện như vậy, nên sau đó Ngài mới khắc phục được mọi hiểm nguy, trở ngại, đi như bay mà vượt qua bao nhiêu núi cao chót vót cùng những vách đá cheo leo ở vùng Trung Á để có ngày đặt chân tới đích tại Ấn-độ. Ngài đi qua đó 14 năm và thâu thập nhiều kinh điển để mang về Trung Quốc phiên dịch.

Ngài làm công tác phiên dịch kinh điển theo chiếu chỉ của nhà vua, nói cách khác là Ngài phụng chiếu dịch, dịch từ bản văn tiếng Phạn của Ấn-độ ra Hán văn. Nay có một số các vị cư sĩ ở đây biết tiếng Trung Hoa, lại thông hiểu tiếng Anh, tiếng Phạn, tiếng Ðức, biết khá nhiều ngôn ngữ như vậy, mà lại phát tâm dịch kinh điển ra tiếng Tây phương thì công đức thật không thể nào kể hết, bởi công đức ấy không phải chỉ giới hạn trong một đời mà còn biết bao nhiêu người Tây phương ở các đời sau đều được hưởng lợi lạc. Vì lẽ này mà tôi mong tất cả các vị hãy đua nhau học tiếng Trung Hoa, để mau mau làm công tác phiên dịch kinh điển ra tiếng Anh, làm một sự cống hiến cho người Tây phương đây.

Thế giới ngày nay đương lúc hư hoại, và chỉ có Phật Pháp mới có cơ vãn hồi, giúp thế giới tránh khỏi ác kiếp. Nếu mọi người đều không hiểu Phật Pháp, tôi e rằng nó có thể đi tới giai đoạn diệt vong. Giê-su có nói về ngày tận thế, và ngày đó sẽ không còn xa đâu! Nếu như kinh Phật được dịch ra Anh Văn, mọi người đều thông suốt Phật Pháp, cố gắng tìm hiểu không lười biếng, đều hướng về trước phát tâm tu đạo, thì ngày tận thế đó còn xa lắm lắm! Không biết là bao nhiêu đại kiếp nữa nó mới tới, hoặc giả ngày đó thiệt ra chẳng có. Tại sao vậy? Bởi Phật Pháp chuyển đại Pháp luân nên vầng thái dương bị kềm giữ lại. Thái dương không bị rớt xuống tức ngày mạt thế cuối – mạt nhật – sẽ không có.

Chúng ta nên nhận thức mọi sự việc một cách linh hoạt, chớ không nên nghĩ một cách cứng ngắt như chết – không phải cứ nói tận thế là phải tận thế. Có thể có tận thế mà cũng có thể không có. Nếu như mọi người đều học Phật Pháp, tận thế sẽ không xảy ra, nếu không ai học Phật Pháp thì tận thế sẽ tới. Sự việc rất linh động như vậy, không nên coi như khô cứng đơ, chết ngắt.

Lấy một thí dụ: trước đây có tin đồn rằng vào tháng tư sẽ có động đất và thành phố San Francisco sẽ bị tai nạn động đất rồi sau đó bị nhận chìm xuống biển. Thỉnh thoảng người ta lại lưu truyền về tin đồn này, chẳng phải riêng trong năm nay (1969) mà mấy năm trước đã có tin đó rồi. Nhiều người có tiền đã dọn đi nơi khác ở vì họ sợ rủi thay có động đất, thành phố sẽ bị chôn vùi xuống đáy biển. Hồi năm ngoái tôi đã có dịp bảo mọi người rằng, chỉ cần chúng ta cố học Phật Pháp thì thành phố tuyệt đối sẽ không thể bị chìm, bởi tôi trú tại đây chưa đủ lâu. Thời gian tôi ở San Francisco chưa đủ nên thành phố không dời chuyển, bị nạn đó. Năm nay tôi xin nhắc lại nữa, các vị cứ yên tâm, chỉ cần quý vị thành tâm niệm chú Lăng-nghiêm và học Phật Pháp thì tôi xin bảo đảm rằng thành phố sẽ không bị chìm, tôi đã nói qua từ lâu rồi. Bởi lý do gì mà cho đến nay, thành phố này vẫn chưa hề hấn gì? Ðâu chẳng phải là ở bên trong đãâm thầm có sự cảm ứng! Các vị thành tâm niệm chú Lăng-nghiêm và học Phật Pháp, vậy là đã có Thiên Long Bát Bộ ủng hộ cho đạo tràng này, cho nên không có chuyện gì xảy ra được.

Vấn đề tận thế cũng giống như vậy: tận thế biến thành không tận thế, huống chi là thành phố San Francisco. Thành phố này không dọn đi đâu cả, dù cho nó có muốn hay không. Cũng như chúng ta muốn dọn đi nơi khác, nhưng vì chưa kiếm được nơi nào thích hợp nên chưa đi. San Francisco chưa kiếm được chỗ khác thích đáng nên nó sẽ không đi.

 Video: Trích đoạn

Nguồn Internet

✍️ Mục lục: Bát Nhã Tâm kinh 👉Xem tiếp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *