Sự Hiển Hiện – Manifestation
✍️ Mục lục: Sự Hiển Hiện – Manifestation
⭐️Ngay Khi Bạn Thấy Sự Thật Lượng Tử Này, Não Bộ Bắt Đầu Tái Cấu Trúc
✨Nếu bạn đang ngồi đây và nghe đến những dòng này thì rất có thể bạn đang đứng trước một ngữ nhận thức mà không phải ai cũng bước tới. Không phải vì bạn đặc biệt hơn người khác mà vì có một phần trong bạn đã sẵn sàng nhìn thẳng vào sự thật. Ngay cả khi sự thật đó có thể làm lung lay toàn bộ cách bạn từng hiểu về thế giới. Sự thật lượng tử mà bạn sắp chạm tới không chỉ là một ý tưởng mới để suy nghĩ thêm. Nó là một dạng hiểu biết khi đi vào đủ sâu sẽ khiến não bộ buộc phải tự sắp xếp lạn chính nó.
Không phải theo nghĩa tượng trưng mà theo đúng nghĩa sinh học. Các kết nối thần kinh vốn đã quen vận hành theo một hệ logic cũ sẽ bắt đầu lỏng ra. Những khung khái niệm từng giúp bạn hiểu đời sẽ không còn khớp nữa. Và những giả định nền tảng nhất về việc bạn là ai, bạn đang sống trong thế giới nào và thực tại vận hành ra sao sẽ phải được dựng lại từ đầu. Nghe có vẻ cực đoan nhưng đây không phải là lời nói phóng đại. Khoa học thần kinh đã chỉ ra một điều rất rõ. Khi con người tiếp nhận một sự thật không thể rung hòa với thế giới quan hiện tại, não bộ không thể đơn giản ghi thêm thông tin. Nó buộc phải tái tổ chức cấu trúc tư duy. Giống như khi bạn phát hiện nền móng của một ngôi nhà không còn chịu lực được nữa thì không thể sửa vài viên gạch mà phải ra cố lại toàn bộ. Và sự thật lượng tử mà bạn sắp hiểu ở đây chính là dạng như vậy. Nó xung đột trực diện với cách bạn được dạy để nhìn thế giới từ nhỏ. Nên khi sự hiểu thực sự xảy ra, việc tái cấu trúc không còn là khả năng có thể xảy ra hay không mà là điều chắc chắn sẽ xảy ra.
Có một sự thật trong cơ học lượng tử không phải nằm ở chi tiết kỹ thuật hay phương trình phức tạp mà nằm ở hàm ý sâu nhất của nó. Một khi bạn hiểu trọn vẹn hàm ý này, ranh giới giữa bạn và thế giới không còn đứng vững nữa.
Không còn ranh giới rõ ràng giữa người quan sát và cái được quan sát. Không còn ranh giới tách biệt giữa ý thức và thực tại vật lý. không còn cảm giác rằng bạn là một cái tôi riêng biệt đang đứng ngoài nhìn vào thế giới. Điều đặc biệt là sự thật này không khó hiểu.
Nó không đòi hỏi bạn phải giỏi toán hay am hiểu vật lý. Ngược lại, nó đơn giản đến mức khi đã được nói ra một cách thẳng thắn, bạn không thể giả vờ như mình không thấy. Và chính vì sự đơn giản đó, nó càng khó né tránh. Bạn không thể nói rằng nó quá cao siêu để bỏ qua, cũng không thể xếp nó và ngăn lý thuyết cho vui. Sự hiểu xảy ra rất nhanh và khi nó xảy ra, não bộ phản ứng gần như ngay lập tức. Phần lớn mọi người cả đời không được nghe sự thật này được nói ra một cách trọn vẹn. Họ học giải giác về cơ học lượng tử, nghe nói về hiệu ứng người quan sát, về trồng chập, về hàm sóng, về sự sục đổ trạng thái. Nhưng tất cả những mảnh đó được giữ tách rời, không bao giờ được ghép lại thành một nhận thức duy nhất đủ mạnh để làm lung lay thế giới quan cũ. Vì thế, họ sống với hai tầng hiểu biết song song. Một tầng dành cho phòng thí nghiệm, cho các hạt vi mô, cho khoa học cao siêu và một tầng khác dành cho đời sống hàng ngày nơi mọi thứ vẫn được xem là rắn chắc, khách quan, tồn tại độc lập với người quan sát. Sự tách ngăn này giúp não bộ không phải thay đổi. Nó giữ cho thế giới quen thuộc tiếp tục vận hành dù nền tảng của nó có thể không còn đúng.
Nhưng khoảnh khắc bạn nhìn thấy sự thật khiến hai tầng đó không thể tách rời nữa. Khoảnh khắc bạn nhận ra rằng hàm ý này áp dụng trực tiếp lên chính sự tồn tại của bạn thì não bộ không còn chỗ để né. Khung cũ không thể chứa nổi điều mới đã được hiểu và khi không thể chứa nó buộc phải sụp để xây lại. Ở thời điểm này, bạn có thể đang cảm nhận một thứ rất quen, vừa tò mò vừa kháng cự. Một phần trong bạn muốn đi tới cùng để biết sự thật, một phần khác lại muốn giữ nguyên cảm giác an toàn của thế giới quen thuộc dù nó có thể sai. Điều đó hoàn toàn bình thường. Não bộ con người luôn ưu tiên sự ổn định hơn là sự thật.
Nó thích duy trì những cấu trúc quen thuộc hơn là phá bỏ để xây mới. Nhưng ngay từ lúc bạn chọn ở lại với nội dung này, bạn đã ngầm đưa ra một quyết định.
Bạn đã chọn sự thật thay vì sự thoải mái và quyết định đó đủ để đưa bạn đi qua giai đoạn tái cấu trúc sắp tới.
Cơ học lượng tử không chỉ là một nhánh vật lý nói về các hạt nhỏ bé. Nó là mô tả về bản chất nền tảng của thực tại. Và bản chất đó không loại trừ bất cứ thứ gì, kể cả bạn, ý thức của bạn và trải nghiệm bạn đang sống.
Khi bạn thực sự hiểu mối quan hệ giữa người quan sát và cái được quan sát, giữa phép đo và thực tại, giữa ý thức và thế giới vật lý thì thế giới quan cũ, nơi bạn là một cá thể tách biệt đang nhìn vào một thế giới bên ngoài sẽ không còn đứng vững.
Nó sụp đổ không phải vì bạn muốn nó sụp mà vì nó không còn phù hợp với sự thật bạn đã thấy. Từ sự sụp đổ đó, một nhận thức mới bắt đầu hình thành. Một nhận thức vừa mở ra cảm giác tự do rất lớn, vừa khiến não bộ phải căng mình thích nghi. Những truyền thống tâm linh cổ xưa từng chạm tới sự thật này bằng trải nghiệm trực tiếp. Họ không giải thích bằng lý thuyết mà dùng nghịch lý, dùng những câu nói làm vỡ logic để đẩy người nghe vượt khỏi tư duy khái niệm. Khoa học hiện đại đi tới cùng một điểm nhưng bằng con đường khác. Bằng thí nghiệm, bằng đo lường, bằng chứng. Hai con đường một sự thật.
Sự thật đó là người quan sát không tách rời khỏi cái được quan sát, ý thức không đứng ngoài thực tạn và bạn không đang sống trong một thế giới đã được định sẵn chờ bạn tới quan sát. Bạn đang tham gia trực tiếp vào việc làm cho thực tại xuất hiện thông qua hành vi quan sát khiến xác suất sụp đổ thành điều bạn đang trải nghiệm.
Không phải như một triết lý sống, không phải như một ẩn dụ đẹp mà là đúng theo cách thực tại vận hành ở tầng lượng tử.
Hãy hít một hơi sâu bởi vì phần tiếp theo sẽ nói thẳng sự thật này, không vòng vo, không để bạn hiểu lơ mơ. Và khi sự hiểu đó chạm tới đủ sâu, quá trình tái cấu trúc sẽ bắt đầu. Không phải trong một khoảnh khắc nhưng là không thể đảo ngược. Bởi vì khi sự thật đã được hiểu mà không còn tương thích với thế giới quan cũ, não bộ chỉ còn hai lựa chọn: phủ nhận hoặc tái tổ chức.
Và ý thức tìm kiếm sự thật luôn sẽ chọn con đường thứ hai dù nó không dễ chịu.
Bạn đang tiến tới một sự thật lượng tử khiến việc phủ nhận trở nên không thể.
Và khi điều đó xảy ra, quá trình tái cấu trúc đã bắt đầu.
Phần hai, bạn không quan sát thực tại, bạn đang làm cho nó xuất hiện.
Trước khi đi tiếp, có một điều rất quan trọng cần được nói rõ. Những gì sắp được chia sẻ không phải là một cách nhìn mang tính triết lý, cũng không phải một quan điểm cá nhân để bạn tin hay không tin.
Đây là cách mà thực tại được chứng minh là đang vận hành khi ta nhìn thẳng vào cơ học lượng tử mà không né tránh các hàm ý của nó. Sự thật này khi được nói ra trực tiếp sẽ khiến bạn không còn chỗ để lẩn tránh bằng những khái niệm quen thuộc. Bạn không phải là một người đứng bên ngoài thụ động quan sát một thế giới đã được định sẵn đang diễn ra trước mắt. Bạn là một phần đang tham gia và chính hành vi quan sát của bạn là thứ làm cho thực tại mà bạn trải nghiệm trở nên xác định. Trước khi bạn quan sát, thực tại không tồn tại ở một trạng thái cụ thể. Nó tồn tại như một trường xác suất, nơi mọi khả năng đều đồng thời hiện diện.
Chỉ khi có quan sát xảy ra, một khả năng trong số đó mới rơi ra khỏi trạng thái trồng chập và trở thành điều bạn đang trải nghiệm. Điều này không xảy ra thỉnh thoảng, không xảy ra trong những khoảnh khắc đặc biệt mà xảy ra liên tục trong từng khoảnh khắc với mọi trải nghiệm của bạn. Bạn không đang phát hiện ra một thế giới đã có sẵn. Bạn đang tham gia vào việc xác định điều gì sẽ xuất hiện thông qua chính việc bạn quan sát.
Cơ học lượng tử không nói điều này theo nghĩa mơ hồ. Nó chứng minh điều đó bằng thí nghiệm. Thí nghiệm hai khê cho thấy các hạt tồn tại như sóng xác suất cho đến khi bị quan sát và chỉ khi có quan sát chúng mới xuất hiện như những điểm cụ thể. Các thí nghiệm lựa chọn trễ cho thấy hành vi quan sát ở hiện tại có thể quyết định cách một sự kiện trong quá khứ đã diễn ra.
Các thí nghiệm xóa lượng tử cho thấy việc thay đổi điều được quan sát ở hiện tại có thể làm thay đổi kết quả về quá khứ đã xảy ra như thế nào. Tất cả những điều này đều dẫn tới cùng một kết luận.
Quan sát không đơn thuần là nhìn thấy.
Quan sát là một phần của quá trình làm cho thực tại xuất hiện.
Ngay lúc này, khi bạn đang đọc những dòng chữ này, rất có thể bạn đang nghĩ rằng mình chỉ đang nhìn vào một màn hình đã tồn tại sẵn với những con chữ đã ở đó từ trước.
Nhưng theo đúng cơ học lượng tử, trước khi có quan sát, màn hình đó và những con chữ đó tồn tại như một tập hợp khả năng. Màn hình có thể sáng hay tối, có thể có chữ hay không có chữ, có thể là màu này hay màu khác. Vô số trạng thái đều cùng tường tại trong trường xác suất. Chỉ khi bạn quan sát, một cấu hình cụ thể mới được chọn và trở thành trải nghiệm bạn đang có. Bạn không thấy cái đang tồn tại khách quan, bạn thấy cái đã được quan sát làm cho trở nên xác định.
Điều này không chỉ áp dụng cho các hạt vi mô trong phòng thí nghiệm. Không có một danh giới nào nơi cơ học lượng tử dừng lại và thực tạn bình thường bắt đầu. Mọi thứ đều là hệ lượng tử. Cơ thể bạn là một tập hợp các khả năng đang liên tục được quan sát và sụp đổ thành cảm giác cụ thể. Những người xung quanh bạn là những mẫu xác suất được bạn trải nghiệm thông qua quá trình quan sát. Thế giới vật lý mà bạn gọi là rắn chắc thực chất là một trường lượng tử đang liên tục sụp đổ thành môi trường bạn đang sống. Cảm giác chắc chắn, cố định, độc lập của thế giới không phải là bản chất gốc của nó. Đó là hình ảnh xuất hiện sau khi quan sát đã xảy ra; không phải điều tồn tại trước đó. Ở điểm này, rất có thể não bạn đang bắt đầu phản ứng, có thể là một cảm giác không thoải mái, có thể là sự phản kháng âm thầm. Điều đó hoàn toàn dễ hiểu bởi vì sự thật này mâu thuẫn trực tiếp với điều bạn đã được dạy suốt cả cuộc đời.
Rằng có một thế giới khách quan bên ngoài và bạn chỉ là người đứng nhìn vào nó.
Nhưng cơ học lượng tử cho thấy điều đó không đúng. Thực tại không tồn tại ở trạng thái xác định cho đến khi có quan sát. Thực tại tồn tại như xác suất và quan sát làm cho xác suất đó trở thành trải nghiệm cụ thể. Bạn không phải là người đứng ngoài nhìn vào thực tại. Bạn là đồng sáng tạo thông qua việc quan sát, quyết định điều gì sẽ được biểu hiện từ trường khả năng. Khi nhận thức này đi vào đủ sâu, một điều rất căn bản bắt đầu tan dã. Sự phân đôi giữa chủ thể và đối tượng không còn bạn ở đây và thế giới ở kia chỉ còn một tiến trình thống nhất nơi ý thức và biểu hiện vật lý là hai mặt của cùng một quá trình. Người quan sát và cái được quan sát không phải hai thực thể tách biệt.
Ý thức và vật chất không phải hai thứ khác nhau.
Tất cả đều là trường lượng tử và cái mà bạn gọi là tôi chỉ là một mẫu ý thức cục bộ đang quan sát chính trường đó và thông qua quan sát làm cho nó sụp đổ thành trải nghiệm mà bạn gọi là đời sống của tôi. Cảm giác bạn là một cá thể tách biệt thực ra là sản phẩm của chính quá trình này chứ không phải nền tảng của nó. Hiểu được điều này không chỉ là học thêm một kiến thức mới, nó làm sụp đổ giả định nền móng mà não bạn đã dùng để tổ chức mọi thứ. Giả định rằng bạn là một người quan sát tách rời khỏi thực tại. Khi giả định đó tan rã, mọi niềm tin, mọi khái niệm, mọi cách hiểu được xây trên nó đều trở nên không ổn định.
Não bộ không thể tiếp tục vận hành như cũ. Nó buộc phải tổ chức lại toàn bộ. Đó chính là điều được gọi là reset não.
Không phải là quên đi con người cũ mà là đặt lại toàn bộ những gì bạn biết trong một bối cảnh mới, nơi bạn không còn là người đứng ngoài nhìn đời mà là ý thức đang tham gia trực tiếp vào sự xuất hiện của đời sống.
Trước khi sự tái cấu trúc này diễn ra trọn vẹn, não bộ gần như chắc chắn sẽ tìm cách kháng cự. Không phải vì bạn sai mà vì não bộ đang cố bảo vệ thế giới quan quen thuộc. Nhận diện được các dạng kháng cự này sẽ giúp bạn không bị mắc kẹt trong chúng. Có những người phản xạ bằng cách gạt đi cho rằng đây chỉ là một cách diễn giải, không phải sự thật đã được chứng minh. Nhưng mọi cách diễn giải nghiêm túc của Cơ học Lượng tử đều đồng ý ở một điểm, quan sát đóng vai trò quyết định trong việc gì được biểu hiện, cơ chế cụ thể có thể còn tranh luận, nhưng việc quan sát ảnh hưởng đến thực tại là một sự thật được xác nhận bằng thí nghiệm. Có người lại cố gắng nhốt sự thật này vào thế giới vi mô. cho rằng nó không áp dụng cho đời sống thường ngày. Nhưng mọi thứ trong đời sống đều được cấu thành từ các hệ lượng tử. Sự khác biệt chỉ nằm ở mức độ dễ quan sát, không phải ở bản chất. Cũng có người sợ rằng nếu mình tham gia tạo ra thực tại thì điều đó có nghĩa là mình phải chịu trách nhiệm trong mọi điều xấu xảy ra. Nhưng tham gia không có nghĩa là kiểm soát tuyệt đối. Phần lớn các quá trình sụp đổ xảy ra trong vô thức. chịu ảnh hưởng của xác suất, của tập thể, của các quy luật vật lý chứ không phải của ý định cá nhân. Sự thật lượng tử không nhằm đổ lỗi, nó nhằm đưa bạn ra khỏi vị thế nạn nhân bất lực để thấy rằng bạn có tham gia dù không toàn quyền kiểm soát. Và cũng có một dạng kháng cự sâu hơn, cảm giác mất nền tảng. Khi thực tại không còn chắc chắn, khi cái tôi không còn tách biệt, não bộ có thể hoang mang như thể không còn thứ gì để bám vào. Nhưng sự mất ổn định này không phải là dấu hiệu sai lầm.
Nó là giai đoạn cần thiết trước khi một cấu trúc mới hình thành. Nhận ra sự kháng cự, quan sát nó nhưng không để nó dẫn dắt. Không cần chống lại, cũng không cần ép mình phải tin. Chỉ cần tiếp tục hiểu, sự tài cấu trúc sẽ diễn ra tự nhiên khi bạn cho phép sự thật đi qua mà không bị chặn lại.
Khi bạn vừa chạm vào một sự thật làm lung lay cách mình từng hiểu về thực tại, điều đầu tiên xảy ra thường không phải là khai sáng mà là một dạng khó chịu rất âm thầm. không phải kiểu hoảng loạn rõ ràng mà là cảm giác muốn gạt đi, muốn nói rằng chắc mình hiểu nhầm hoặc nghe thì hay đó nhưng chắc không đúng với đời sống thật. Phản ứng này không đến từ lý trí, nó đến từ một tầng sâu hơn của não bộ, tầng chịu trách nhiệm giữ cho bạn cảm thấy an toàn.
Não người không được tiến hóa để tìm kiếm sự thật, nó được tiến hóa để duy trì ổn định.
Trong hàng trăm nghìn năm, việc sống sót phụ thuộc vào khả năng, dự đoán được môi trường, tin rằng thế giới vận hành theo quy luật quen thuộc và hành động nhanh dựa trên những giả định đã được lặp lại.
Vì vậy, khi bạn chạm vào một sự thật nói rằng thực tại không hoàn toàn chắc chắn, vai trò của bạn không chỉ là người đứng ngoài và những gì bạn từng tin có thể không phải là nền móng cuối cùng.
Não bộ không đánh giá điều đó theo tiêu chí đúng hay sai. Nó đánh giá theo tiêu chí điều này có làm mất cảm giác an toàn quen thuộc không? Và câu trả lời thường là có.
Đó là lúc cơ chế kháng cự xuất hiện. Kháng cự không phải là bạn phản biện logic. Kháng cự thường xuất hiện dưới những dạng rất đời thường. Bạn bỗng thấy nội dung này hơi mông lung. Bạn muốn chuyển sang video khác nhẹ hơn.
Bạn thấy đầu óc mệt và muốn dừng lại hoặc bạn bắt đầu tìm một cách giải thích cũ quen để dáng lên điều vừa nghe.
Điều quan trọng cần hiểu là não không đang bảo vệ niềm tin, nó đang bảo vệ cấu trúc quen thuộc giúp bạn dự đoán đời sống. Một sự thật dù đúng đến đâu, nếu nó làm sụp một cấu trúc dự đoán đã giúp bạn sống ổn suốt nhiều năm, não vẫn sẽ xem nó là mối đe dọa. Đây là lý do vì sao nhiều người hiểu rất nhanh về mặt khái niệm nhưng lại không muốn ở lạn với sự thật đó quá lâu. Không phải vì họ không thông minh mà vì bộ não của họ đang làm đúng chức năng sinh tồn của nó.
Nếu bạn đang nghe tới đây và nhận ra mình từng có phản ứng như vậy thì điều đó không nói gì xấu về bạn cả. Ngược lại, nó cho thấy bạn đã chạm đủ gần và một biểu có khả năng làm thay đổi cấu trúc nhận thức chứ không chỉ là thêm thông tin mới. Trong phần tiếp theo, điều quan trọng không còn là hiểu thêm mà là điều gì xảy ra khi bạn không vội chạy trốn khỏi sự khó chịu này và bắt đầu quan sát nó như một phần của quá trình.
💥Phần bốn: Quan sát thực sự là gì?
Bạn đang liên tục làm cho thực tại sụp đổ ngay cả khi không hề để ý.
Có một hiểu lầm rất phổ biến khiến nhiều người kẹt lại khi tiếp cận cơ học lượng tử. Họ nghĩ rằng quan sát có nghĩa là chú ý có ý thức, kiểu như nhìn chằm chằm vào một vật hay tập trung tư tưởng vào một điều gì đó. Nhưng trong cơ học lượng tử, quan sát không hẹp như vậy. Quan sát không đòi hỏi bạn phải ý thức rằng mình đang quan sát. Quan sát là bất kỳ tương tác nào tạo ra thông tin có thể được ý thức tiếp cận dù trên thực tế bạn có đang chú ý tới nó hay không. Sự khác biệt này rất quan trọng vì nó giải thích vì sao bạn đang liên tục làm cho thực tại sụp đổ thành trải nghiệm cụ thể. Ngay cả khi bạn không hề thiền, không hề tập trung, không hề có ý định làm điều gì. Khi một photon chạm vào võng mạc của bạn, thông tin được tạo ra. Khi một làn sóng âm làm dung màng nghĩ, thông tin được tạo ra.
Khi một phân tử mùi gắn vào thụ thể trong mũi, thông tin được tạo ra. Khi một tín hiệu thần kinh truyền trong não, thông tin được tạo ra.
Mỗi tương tác như vậy đều là một hành vi quan sát theo nghĩa lượng tử. Điều quan trọng là sự sụp đổ từ trạng thái xác suất sang trạng thái xác định xảy ra trước khi bạn kịp nhận biết có chuyện gì đang xảy ra. Đến lúc bạn ý thức rằng mình đang thấy, đang nghe, đang cảm nhận thì quá trình sụp đổ đã hoàn tất rồi.
Nói cách khác, ý thức không phải lúc nào cũng là người ra quyết định cuối cùng.
Nhưng ý thức luôn là phần có thể tiếp cận thông tin đã được tạo ra. Điều này có nghĩa là bạn đang quan sát theo nghĩa lượng tử hàng tỷ lần mỗi giây. Mọi tín hiệu giác quan, mọi hoạt động thần kinh, mọi tương tác phân tử trong cơ thể bạn, tất cả đều là những hành vi quan sát khiến xác suất trở thành điều xác định.
Bạn không thể ngừng quan sát vì sự sống của bạn chính là một chuỗi tương tác liên tục với trường lượng tử.
Tuy nhiên, ý thức không hề vô can. Mặc dù sự sục đổ có thể xảy ra trong vô thức, nhưng ý thức ảnh hưởng đến việc những quan sát nào xảy ra nhiều hơn và xác suất sụp đổ nghiêng về hướng ngảo.
Khi bạn chú ý tới điều gì đó, hoạt động thần kinh liên quan đến sự chú ý đó tăng lên. Hoạt động thần kinh này cũng là một dạng tương tác lượng tử và nó tạo ra thêm thông tin. Nói cách
khác, khi ý thức tập trung, nó tăng mật độ quan sát ở một vùng nhất định của trường khả năng.
Điều này không có nghĩa là ý thức ra lệnh cho thực tại phải làm theo, nhưng nó có nghĩa là ý thức làm lệch phân bố xác suất khiến một số khả năng có xu hướng được sụp đổ nhiều hơn những khả năng khác.
Khi bạn chú ý tới nguy hiểm, não bạn tạo ra nhiều quan sát liên quan đến đe dọa.
Khi bạn chú ý tới cơ hội, não bạn tạo ra nhiều quan sát liên quan đến khả năng.
Thực tại. Bạn trải nghiệm không phải là một bức tranh khách quan cố định mà là kết quả của vô số lần sụp đổ xác suất, trong đó ý thức góp phần định hình hướng đi.
Điều này giúp giải thích một câu hỏi rất hay mà nhiều người thường đặt ra.
Nếu tôi đang tham gia tạo ra thực tại, vậy tại sao không phải cái gì tôi muốn cũng xuất hiện?
Bởi vì phần lớn sự sụp đổ không đến từ mong muốn có ý thức mà đến từ các mẫu quan sát vô thức đã được lặp đi lặp lại trong thời gian dài. Những mẫu này được hình thành từ kinh nghiệm quá khứ, môi trường, tập thể, sinh học và cả các quy luật vật lý.
Ý thức có thể ảnh hưởng nhưng không phải là yếu tố duy nhất. Bạn không toàn quyền kiểm soát nhưng bạn không đứng ngoài.
Bạn giống như một người đang điều chỉnh hướng bi trong một dòng chảy lớn.
Bạn không tạo ra dòng sông nhưng cách bạn trèo có ảnh hưởng tới quãng đường bạn đi qua.
Khi hiểu điều này, cơ học lượng tử không còn mang màu sắc phép màu hay ước gì được nấy. Nó trở thành một mô tả rất thực tế về cách ý thức và thế giới vật lý tương tác liên tục.
Bạn đang luôn làm cho thực tại xuất hiện thông qua quan sát, phần lớn là vô thức, một phần là có ý thức. Và phần có ý thức đó đủ để tạo ra sự khác biệt theo thời gian.
Điều này cũng giải quyết mâu thuẫn tưởng chừng như rất lớn. Nếu tôi đang quan sát và làm cho thực tại sụp đổ, vậy thì người khác ở đâu trong câu chuyện này?
Bạn không phải là người duy nhất quan sát. Bạn là một điểm quan sát trong một trường ý thức liên kết. Những người khác cũng đang quan sát từ góc nhìn của họ.
Những lần sụp đổ từ các điểm quan sát khác nhau không mâu thuẫn mà được liên kết với nhau thông qua sự ràng buộc lượng tử, tạo ra một thực tại chung đủ nhất quán để tất cả cùng trải nghiệm.
Bạn không tạo ra người khác, bạn đang cùng họ đồng tham gia vào một tiến trình chung, nơi thực tại được sụp đổ từ trường xác suất thành trải nghiệm chia sẻ. Ngay tại đây, bạn có thể bắt đầu cảm nhận sự thay đổi rất tinh tế, không phải là một suy nghĩ mới mà là một cách cảm nhận khác về việc đang sống.
Bạn không còn hoàn toàn là người bị ném vào hoàn cảnh, nhưng bạn cũng không phải người kiểm soát toàn bộ. Bạn là một phần đang tham gia, đang ảnh hưởng, đang tương tác.
Ở phần tiếp theo, chúng ta sẽ đi vào trải nghiệm cá nhân khi não bắt đầu tái cấu trúc thật sự. Vì sao có giai đoạn hoang mang mất chắc chắn và vì sao điều đó không phải là dấu hiệu đi sai mà là một phần không thể tránh của quá trình tái cấu trúc.
Hoang mang không phải là sai mà là dấu hiệu đúng.
Có một giai đoạn mà hầu như ai đi đủ sâu tới sự thật này đều sẽ trải qua dù ít hay nhiều. Đó là giai đoạn mà cảm giác quen thuộc về thực tại bắt đầu mất đậu chắc. Với tôi, nó bắt đầu rất rõ ràng.
Lúc đó tôi đang học một khóa vật lý đã từng tiếp xúc với cơ học lượng tử trước đó, đã hiểu toán, đã hiểu thí nghiệm.
Nhưng tôi vẫn giữ một sự chia ngăn rất tinh vi. Một bên là lượng tử dành cho phòng thí nghiệm, một bên là đời sống bình thường của tôi. Cho đến khi người giảng viên nói thẳng ra một câu không vòng vo, không né tránh hàm ý. Bạn không đang quan sát một thực tại độc lập. Bạn đang làm cho trường xác suất sụp đổ thành thực tại bạn trải nghiệm thông qua quan sát. Và điều này không chỉ áp dụng cho các hạt mà áp dụng cho chính đời sống của bạn.
Khoảnh khắc đó, sự chia ngăn sụp đổ ngay lập tức. Não tôi không phản ứng bằng cảm giác. À hiểu rồi, nó phản ứng bằng mất phương hướng. Trong những ngày sau đó, tôi bắt đầu đặt ra những câu hỏi mà trước đây chưa từng xuất hiện. Không phải câu hỏi triết học cho vui mà là những câu hỏi làm rung cả nền móng nhận thức. Nếu thực tại chỉ trở nên xác định khi có quan sát, vậy điều gì tồn tại khi tôi không quan sát?
Khi tôi quay lưng đi, thế giới có còn ở đó theo nghĩa tôi từng nghĩ không? Nếu mọi thứ là xác suất trước khi sụp đổ, vậy xác suất đó là thật hay chỉ là một khái niệm trều tượng? Và rồi những câu hỏi sâu hơn xuất hiện. Nếu tôi đang sụp đổ thực tại qua quan sát thì thực tại của người khác ở đâu trong câu chuyện này? Họ đang sụp đổ thực tại của họ hay họ chỉ là một phần trong trải nghiệm của tôi?
Khi tôi không ở đó, họ có tồn tại theo cách nào? Những câu hỏi này không xuất hiện từng cái một. Chúng dồn dập nhanh hơn khả năng trả lời của tôi.
Nền móng cũ, nơi tôi là một cá thể tách biệt, sống trong một thế giới khách quan, liên tục, ổn định đã tan ra, nhưng nền móng mới chưa kịp hình thành. Khoảng trống giữa hai nền móng đó là thứ mà nhiều người sợ nhất.
Trong khoảng thời gian đó, cảm giác chủ đạo không phải là sợ hãi theo kiểu hoảng loạn mà là bất định. Mọi thứ quen thuộc đều trở nên lạ đi một chút.
Tôi nhìn vào một đồ vật và nhận ra rằng mình không còn cảm nhận nó như một thứ tự nhiên tồn tại sẵn nữa.
Tôi bắt đầu thấy nó như một kết quả của quá trình quan sát đang diễn ra. Khi tương tác với người khác, tôi không còn cảm giác đơn giản là hai cá thể gặp nhau trong một thế giới cố định.
Tôi bắt đầu thấy đó là một tiến trình quan sát lẫn nhau, nơi thực tại chung đang được sụp đổ trong khoảnh khắc tương tác.
Mọi trải nghiệm đều mang một lớp lạ rất tinh tế, không phải ảo giác, không phải mất kiểm soát, mà là cảm giác rằng cách mình từng mặc định về thế giới không còn tự động đúng nữa.
Giống như bạn đang sống trong một căn nhà cũ rồi phát hiện ra móng của nó không đúng, bạn không thể ở yên trong lúc người ta tháo dỡ và xây lại. Sẽ có lúc mọi thứ lộn xộn, bụi bặng, tạm bợ.
Nhưng đó không phải là dấu hiệu sai, đó là dấu hiệu rằng việc cải tạo đang thật sự diễn ra.
Với tôi, sự tái cấu trúc này kéo dài khoảng vài tháng, ban đầu là sự dao động liên tục. Có lúc tôi lại nhìn thế giới theo cách cũ, thấy mọi thứ dáng chắc quen thuộc. Có lúc tôi lại thấy rõ thực tại như một trường xác suất đang liên tục sụp đổ qua quan sát. Hai cách nhìn đó luân phiên không ổn định.
Điều quan trọng là tôi không cố ép mình phải ở trạng thái nào. Tôi cũng không cố quay lại bình thường bằng cách phủ nhận điều mình đã hiểu. Tôi chỉ để cho quá trình diễn ra.
Dần dần, não bộ bắt đầu tìm được một cấu trúc mới để ổn định. Không phải là trạng thái lạ liên tục mà là một cách nhìn nền tảng mới. Tôi không còn phải nghĩ về cơ học lượng tử mỗi ngày. Nhưng cách tôi cảm nhận thực tại đã thay đổi ở tầng gốc. Tôi không còn mặc định rằng mình là nạn nhân của hoàn cảnh, nhưng tôi cũng không ảo tưởng rằng mình kiểm soát mọi thứ. Tôi bắt đầu thấy mình là người tham gia. Tham gia vào một tiến trình biểu hiện phức tạp, nơi tôi có ảnh hưởng nhưng không toàn quyền.
Điều tôi ước ai đó đã nói với tôi sớm hơn là điều này. Cảm giác hoang mang, bất định, đặt lại câu hỏi về mọi thứ không phải là dấu hiệu bạn đi sai. Nó là giai đoạn bắt buộc khi một cấu trúc nhận thức cũ tan ra nhưng cấu trúc mới chưa kịp ổn định. Bạn không mất trí, bạn không thoát thực tại. Bạn đang đi vào một cách hiểu chính xác hơn về thực tại. Não bộ cần thời gian để xây lại các đường dẫn thần kinh mới phù hợp với sự thật vừa được tích hợp. Trong thời gian đó, cảm giác bất định là không thể tránh. Nếu bạn cố né nó, bạn sẽ quay lại thế giới quan cũ. Nếu bạn cho phép nó tồn tại, nó sẽ tự ổn định.
Ở phần tiếp theo, chúng ta sẽ đi sâu vào một giai đoạn còn khó hơn khi sự chắc chắn biến mất, khi những câu hỏi về bản thân, ký ức, người khác và thời gian xuất hiện. Và vì sao việc chịu được không biết lại là điều quyết định quá trình tái cấu trúc có hoàn tất hay không?
Không biết không phải là sai mà là ngường bắt buộc.
Có một thời điểm trong quá trình tái cấu trúc mà cảm giác quen thuộc về biết bắt đầu tan ra gần như hoàn toàn. Không chỉ là bạn không chắp về cơ học lượng tử hay bản chất thực tại mà là bạn không còn chắc về những điều rất căn bản mà trước đây chưa từng bị đặt câu hỏi. Bạn bắt đầu nhận ra rằng rất nhiều chắc chắn trong đời mình thực ra chỉ tồn tại vì bạn chưa từng nhìn sâu vào nền móng của chúng. Khi nền móng đó lung lay, sự chắc chắn không thể ở lại. Một trong những câu hỏi đầu tiên thường xuất hiện là về tính liên tục của bản thân. Nếu thực tại chỉ trở nên xác định khi có quan sát, vậy tôi có tồn tại liên tục không? Khi tôi không chú ý đến cơ thể mình, cơ thể đó có tồn tại theo nghĩa xác định hay chỉ như một trường khả năng? Khi tôi ngủ, khi tôi không ý thức thế giới có còn ở đó không? hay nó chỉ tồn tại khi có quan sát? Những câu hỏi này không phải do bạn nghĩ quá nhiều. Chúng xuất hiện vì cách hiểu cũ về sự tồn tại liên tục, không còn tự động đúng nữa. Rồi đến những câu hỏi về quá khứ. Nếu quan sát có thể ảnh hưởng ngược lại các sự kiện lượng tử đã xảy ra, vậy quá khứ có thật sự cố định không?
Thí ức của tôi có phải là một bản ghi lịch sử chính xát hay là một dạng sụp đổ xác suất đang xảy ra ngay trong hiện tại? Tôi đang nhớ lại điều đã từng xảy ra hay tôi đang tạo ra một phiên bản quá khứ phù hợp với hiện tại của mình? Những câu hỏi này có thể gây choáng bởi vì nếu quá khứ không còn chắc chắn thì cảm giác về bản thân được xây dựng từ ký ức cũng
bắt đầu lung lay.
Và rồi có một câu hỏi sâu hơn thường gây khó chịu nhất. Người khác ở đâu trong tất cả chuyện này?
Nếu tôi đang sụp đổ thực tại qua quan sát thì khi tôi không ở đó, người khác tồn tại như thế nào? Họ có đang sống trong một thực tại riêng của họ không?
Hay họ chỉ xuất hiện trong trải nghiệm của tôi khi tôi quan sát?
Ở giai đoạn này, rất nhiều người bắt đầu sợ rằng mình đang trượt vào một dạng tôi là trung tâm, mọi thứ khác không thật.
Nhưng nỗi sợ này xuất hiện trước khi não kịp tích hợp hiểu biết mới, chứ không phải vì hiểu biết đó sai. Cơ học lượng tử không nói rằng bạn là người duy nhất tồn tại. Nó cho thấy rằng có nhiều điểm quan sát độc lập cùng tham gia vào một trường lượng tử chung. Và các điểm quan sát đó được liên kết với nhau thông qua sự ràng buộc lượng tử, tạo ra một thực tại đủ nhất quán để cùng sống trong đó.
Nhưng trong giai đoạn tái cấu trúc, sự hiểu này chưa kịp ổn định. Thế nên trước khi có sự chắc chắn mới sẽ có một khoảng thời gian bạn phải ở trong trạng thái chưa biết.
Đây là điểm rất quan trọng. Phần lớn con người không sợ sự thật, họ sợ không biết. Thế giới quan cổ điển dù có thể sai nhưng ngó cho những câu trả lời rõ ràng. Tôi tồn tại liên tục, quá khứ là cố định, người khác là khách quan, thực tại là chắc chắn. Những câu trả lời đó tạo ra cảm giác an toàn. Khi cơ học lượng tử làm tan rã những câu trả lời này, bạn không lập tức có câu trả lời mới, bạn có một khoảng trống. Khoảng trống đó rất dễ bị hiểu nhầm, làm mất phương hướng; khủng hoảng hay đi sai đường. Nhưng trên thực tế đây là giai đoạn trưởng thành thức. Sự chắc chắn dựa trên giả định sai không phải là trí tuệ mà là sự thoải mái. Sự không chắc chắn phát sinh từ việc chạm vào sự thật sâu hơn là dấu hiệu của hiểu biết đang lớn
lên. Giống như một đứa trẻ lần đầu nhận ra thế giới không đơn giản như những câu trả lời người lớn từng đưa ra. Sự hoang mang không phải là thụt lùi mà là bước chuyển từ ngây thơ sang trưởng thành. Ở giai đoạn này, điều quan trọng nhất không phải là tìm câu trả lời ngay lập tức mà là chịu được trạng thái không biết mà không vội quay về những câu trả lời cũ chỉ vì chúng quen thuộc.
Rất nhiều người thất bại ở đây. Họ chạm tới sự thật đủ sâu để làm sụp thế giới quan cũ nhưng không đủ kiên nhẫn để chờ thế giới quan mới hình thành.
Họ quay lại với các câu trả lời đơn giản, không phải vì chúng đúng mà vì chúng giúp họ bớt khó chịu. Nhưng cái giá của việc đó là sống trong trạng thái biết sự thật nhưng không dám sống theo nó. Sự căng thẳng đó còn mệt hơn rất nhiều so với việc đi hết quá trình tái cấu trúc.
Sự không biết trong giai đoạn này không phải là chống rỗng. Nó là khoảng lặng cần thiết để não bộ xây dựng những đường dẫn mới. Giống như khi một nền móng cũ bị phá bỏ, bạn không thể vừa phá vừa dựng ngay lập tức.
Nhưng nếu bạn chịu được khoảng thời gian đó, cấu trúc mới sẽ xuất hiện. Với tôi, giai đoạn này kéo dài khoảng vài tháng.
Có những lúc tôi thực sự không chắc mình đang tồn tại theo cách nào. Không chắc quá khứ của mình có cố định không. Không chắc cách tôi hiểu về người khác có còn đúng không, nhưng dần dần một dạng chắc chắn mới bắt đầu hình thành.
Không phải chắc chắn kiểu cũ, cứng nhắc và đơn giản mà là một dạng hiểu biết linh hoạt hơn, bao chủng hơn cho phép nghịch lý và xác suất cùng tồn tại.
Khi não bộ tái cấu trúc xong, bạn không còn cần phải nghĩ về lượng tử nữa. Nhưng cách bạn nhận thức sự tồn tại đã khác.
Bạn không quay lại sự ngây thơ cũ, bạn bước sang một dạng trưởng thành mới.
Khi quá trình tái cấu trúc hoàn tất, điều đầu tiên cần nói rõ là bạn không bước vào một trạng thái đặc biệt hay một cảm giác siêu việt liên tục. Không có ánh sáng, không có khoảnh khắc bùng nổ, không có cảm giác mình đã đạt tới điều gì đó hơn người khác. Điều thay đổi nằm ở tầng sâu hơn nhiều, cách nhận thức tự động vận hành. Trước đây, khi nhìn một sự vật, não bạn gần như mặc định rằng nó tồn tại, độc lập, khách quan, sẵn có.
Bạn không cần nghĩ, không cần lựa chọn.
Giả định đó tự động kích hoạt sau tái cấu trúc, giả định đó không còn tự động nữa. Bạn nhìn một vật và ở đâu đó rất sâu, không phải bằng suy nghĩ mà bằng cảm nhận trực tiếp. Bạn nhận ra thứ đang xuất hiện trước mắt này là kết quả của một quá trình sụp đổ. Xác suất đang diễn ra thông qua quan sát. không phải như một lớp triết lý trồng lên trải nghiệm mà là một cách nhìn tự nhiên, giống như cách bạn nhìn mọi thứ sau khi đã hiểu Trái Đất quay quanh mặt trời.
Bạn vẫn thấy mặt trời mọc và lặn nhưng bạn không còn thực sự tin rằng nó quay quanh bạn nữa. Sự thay đổi này cũng xảy ra với cách bạn nhìn chính mình. Trước đây, cảm giác tôi thường được trải nghiệm như một thực thể rắn chắc, liên tục đứng bên trong và quan sát thế giới bên ngoài. Sau tài cấu trúc, cái tôi vẫn còn để vận hành đời sống, để quyết định, để hành động, nhưng nó không còn được cảm nhận như một thực thể tuyệt đối. Bạn bắt đầu thấy mình như một mẫu hình trong trường thực tại, vừa quan sát vừa được quan sát, vừa tham gia vừa xuất hiện. Cảm giác tách biệt không biến mất hoàn toàn nhưng bạn biết nó là một cấu trúc chức năng không phải bản chất cuối cùng. Điều này làm thay đổi sâu sắc cách bạn hiểu về nguyên nhân và kết quả.
Trong thế giới quan cũ, mọi thứ xảy ra theo chuỗi cơ học. Quá khứ gây ra hiện tại, hiện tại quyết định tương lai. Bạn hoặc là kiểm soát được hoặc là bị chi phối.
Sau tái cấu trúc, bạn bắt đầu cảm nhận nguyên nhân, kết quả như một tiến trình xác suất. Quá khứ không còn là một khối đá nặng nề kéo lây hiện tại.
Nó trở thành một tập hợp các mẫu xác suất đang ảnh hưởng chứ không quyết định tuyệt đối. Tương lai không còn là một kịch bản đã viết sẵn. Nó là một trường khả năng đang được định hình chút một bởi cách hiện tại được quan sát và tham gia. Bạn không còn thấy mình là nạn nhân bị đẩy đi bởi chuỗi sự kiện, nhưng bạn cũng không rơi vào ảo tưởng rằng mình toàn quyền kiểm soát. Bạn bắt đầu thấy mình đang tham gia vào việc định hình xác suất chứ không đứng ngoài chuỗi nguyên nhân kết quả.
Trải nghiệm về thời gian cũng thay đổi theo cách rất tinh tế. Thời gian không còn chỉ là một đường thẳng kéo từ quá khứ tới tương lai. Quá khứ được cảm nhận như những mẫu ảnh hưởng đang hiện diện trong hiện tại. Tương lai được cảm nhận như những khả năng đang chờ được sụp đổ.
Hiện tại trở thành điểm then chốt không phải vì nó quan trọng về mặt đạo đức mà vì quan sát xảy ra ở đây. Chính đây, sát suất trở thành trải nghiệm. Cách bạn nhìn hoàn cảnh cũng đổi khác. Trước đây, hoàn cảnh thường được trải nghiệm như thứ xảy ra với tôi. Sau tái cấu trúc, bạn bắt đầu thấy hoàn cảnh như thứ đã xuất hiện từ một tiến trình phức tạp, trong đó bạn có tham gia dù không kiểm soát hết. Điều này không khiến bạn tự trách, nó khiến bạn bớt bất lực. Bạn không còn hỏi tại sao chuyện này lại xảy ra với tôi. Bạn bắt đầu hỏi, “Trong tiến trình này, tôi đang quan sát và tham gia theo cách nào?”
Sự khác biệt này rất quan trọng. Thế giới quan cũ dễ tạo ra tâm thế nạn nhân.
Thế giới quan mới tạo ra trách nhiệm tham gia nhưng không mang gánh nặng tội lỗi.
Một điều nữa cũng trở nên rất rõ sau tái cấu trúc. Việc biểu hiện không còn là một kỹ thuật bạn dùng khi cần. Bạn không còn nghĩ rằng chỉ khi tập trung, hình dung hay làm nghi thức thì mới tạo ra thực tại. Bạn bắt đầu thấy rằng việc sụp đổ thực tại đang diễn ra liên tục trong mọi khoảnh khắc thông qua quan sát, chú ý, phản ứng và kỳ vọng. Không phải lúc nào bạn cũng ảnh hưởng mạnh, không phải lúc nào bạn cũng chủ động nhưng bạn luôn tham gia. Đây là điểm khiến bạn không thể quay lại hoàn toàn cách nhìn cũ.
Cấu trúc thần kinh đã thay đổi theo hướng đó. Giống như một khi đã học bơi, bạn có thể đứng trên bờ nhưng bạn không thể quên rằng mình biết bơi. Nhận thức mới trở thành nền không còn là ý tưởng.
Ở phần tiếp theo, chúng ta sẽ chạm tới một điểm rất quan trọng. Vì sao sự tái cấu trúc này là không thể đảo ngược?
Không phải vì ý chí mà vì cách não bộ học và thay đổi cấu trúc của chính nó.
>>
Có một điều rất quan trọng cần được hiểu đúng ở đây. Việc tái cấu trúc này không trở nên không đảo ngược vì bạn tin vào nó hay vì bạn chọn không quay lại cách nhìn cũ. Nó không phụ thuộc vào ý chí.
Nó trở nên không đảo ngược vì não bộ đã thay đổi cách nó tổ chức và xử lý thông tin.
Não người có một khả năng gọi là tính dẻo thần kinh. Nghĩa là cấu trúc và chức năng của nó thay đổi dựa trên trải nghiệm và sự hiểu. Khi bạn lần đầu tiếp xúc với sự thật lượng tử này, các đường dẫn thần kinh cũ vốn được xây dựng quanh thế giới quan cổ điển vẫn là mặc định.
Cách nhìn cũ vẫn còn rất mạnh. Nhưng mỗi lần bạn nhận ra rằng quan sát đang tham gia làm cho thực tại xuất hiện, mỗi lần bạn thấy rõ rằng mình không đứng ngoài tiến trình đó. Mỗi lần bạn trải nghiệm trực tiếp sự sụp đổ của xác suất trong đời sống thường ngày, những đường dẫn mới bắt đầu hình thành. Ban đầu chúng yếu, chúng không ổn định, chúng dễ bị lấn át bởi cách nhìn cũ. Nhưng não học bằng lặp lại và sử dụng. Những đường dẫn nào được kích hoạt nhiều hơn sẽ mạnh lên. Những đường dẫn nào ít được dùng sẽ yếu dần. Trong giai đoạn
tái cấu trúc, hai hệ thống này cùng tồn tại. Có lúc bạn lại nhìn đời theo cách cũ, có lúc bạn thấy rất rõ cách nhìn mới. Điều này không phải là thất bại, nó là quá trình.
Dần dần một ngưỡng được vượt qua. Khi số lượng và độ mạnh của các đường dẫn mới đủ lớn, não bắt đầu ưu tiên xử lý thông tin theo cách mới. Không phải vì bạn cố gắng mà vì đó là cách ít tốn năng lượng hơn đối với cấu trúc mới đã hình thành.
Tại điểm đó, việc quay lại cách nhìn cũ không còn là điều tự nhiên nữa. Bạn có thể giả vờ, bạn có thể tạm quên nhưng bạn không thể thật sự tin như trước.
Giống như khi bạn đã hiểu mô hình nhật tâm, bạn vẫn có thể nói mặt trời mọc, mặt trời lặng trong đời sống thường ngày. Nhưng bạn không thể quay lại tin rằng mặt trời quay quanh trái đất. Không phải vì bạn cứng đầu mà vì não bạn không còn tổ chức thông tin theo cách đó nữa.
Sự không đảo ngược này không phải là một trạng thái tâm linh, nó là thay đổi sinh học. Các mạng lưới thần kinh đã được tái tổ chức. Cách não bạn lọc, ưu tiên và diễn giải thông tin đã đổi. Bạn không còn có thể hoàn toàn vô thức trước vai trò của mình trong tiến trình biểu hiện của thực tại. Bạn có thể phớt lờ nó trong chốc lát nhưng nó không biến mất.
Đây là lý do vì sao nhiều người cảm thấy khó chịu khi cố quay lại thế giới quan cũ sau khi đã chạm vào sự thật này.
Không phải vì thế giới quan cũ xấu mà vì nó không còn phù hợp với cấu trúc nhận thức mới. Sự khó chịu đó lớn hơn rất nhiều so với sự bất an tạm thời trong quá trình tái cấu trúc. Sống trong trạng thái biết mà giả vờ không biết tạo ra một dạng căng thẳng sâu hơn.
Điểm không thể quay lại không phải là khoảnh khắc bạn hiểu ra mà là khoảnh khắc não bạn đã học cách xử lý thực tại theo cách mới. Từ thời điểm đó, nhận thức lượng tử trở thành nền.
Bạn không trở thành một con người khác, bạn vẫn sống, vẫn làm việc, vẫn yêu, vẫn buồn vui như trước.
Nhưng cách bạn ngầm hiểu mình đang sống trong một thế giới như thế nào đã thay đổi. Và vì sự thay đổi đó nằm ở tầng cấu trúc chứ không ở tầng niềm tin nên nó không thể bị đảo ngược bằng quyết định.
Sau khi quá trình tái cấu trúc hoàn tất, nhiều người mong chờ một cảm giác đặc biệt nào đó xuất hiện. Nhưng điều thực sự xảy ra thường tinh tế hơn rất nhiều. Bạn không bỗng nhiên nhìn thấy ánh sáng, không nghe được những điều người khác không nghe, không sở hữu khả năng siêu nhiên nào. Thứ thay đổi là cách não bạn tự động xử lý trải nghiệm ngay cả khi bạn không cố ý.
Một trong những thay đổi rõ nhất là khả năng cảm nhận xác suất trước khi nó trở thành sự việc cụ thể. Trước đây, bạn thường chỉ nhận ra điều gì đó khi nó đã xảy ra. Sau reset, bạn bắt đầu cảm thấy một dạng độ mở trước khi sự việc định hình. Không phải dự đoán chính xác, không phải tiên chi mà là cảm giác rằng có nhiều khả năng cùng tồn tại và bạn đang đứng trước khoảnh khắc, một trong số đó sẽ được sụp đổ.
Khi phải đưa ra quyết định, bạn không còn chỉ dựa vào suy lợn tuyền tính. Bạn cảm nhận được trường lựa chọn nơi các hướng đi khác nhau mang những trọng lượng khác nhau.
Não bộ đã quen với việc nghĩ theo xác suất nên nó không còn bám chặc vào một kịch bản duy nhất. Một thay đổi khác là khả năng nhận ra tác động của quan sát trong thời gian thực. Bạn bắt đầu thấy rằng khi bạn chú ý theo một cách nào đó, trải nghiệm bắt đầu nghiêng theo hướng đó.
Không phải ngay lập tức, không phải lúc nào cũng rõ ràng, nhưng đủ để bạn không còn coi đó là ngẫu nhiên. Bạn không cần phải nhắc mình rằng mình đang tạo ra thực tại. Não đã tự động nhận ra rằng quan sát không trung tính.
Khi bạn quan sát với căng thẳng, thực tại có xu hướng sụp đổ theo h ớng căng thẳng. Khi bạn quan sát với cởi mở, thực tại có nhiều khoảng trống hơn để các khả năng khác xuất hiện.
Đây không phải là niềm tin mới, đây là nhận thức trực tiếp giống như việc bạn cảm nhận được khi mình đang mất tập trung hay tỉnh táo.
Một năng lực khác xuất hiện là khả năng nhận ra lớp xác suất bên dưới vẻ ngoài chắc chắn của mọi thứ. Trước đây, thế giới có vẻ rất cố định. Sau reset, cái cố định đó bắt đầu được cảm nhận như kết quả của vô số lần sụp đổ liên tiếp. Bạn nhìn một hoàn cảnh và không còn thấy nó là chỉ có thể như vậy. Bạn thấy nó là một điểm trong một không gian khả năng rộng hơn. Điều này không khiến bạn mơ mộc. Nó khiến bạn bớt bị kẹt. Bạn không còn phản ứng với hoàn cảnh như một sự thật tuyệt đối. Bạn phản ứng với nó như một cấu hình tạm thời.
Một thay đổi nữa là cách bạn nhận thức tính liên tục của cái tôi. Cái tôi vẫn tồn tại để vận hành đời sống nhưng bạn không còn bám chặt vào nó như một thứ phải được bảo vệ bằng mọi giá. Khi cảm xúc đến, bạn không còn đồng nhất hoàn toàn về nó. Khi suy nghĩ xuất hiện, bạn không còn tin rằng nó là tôi. Không phải vì bạn học cách quan sát bản thân mà vì não bạn đã không còn tổ chức trải nghiệm quanh một trung tâm cố định như trước.
Tất cả những điều này không đến từ việc luyện tập một kỹ năng mới. Chúng là hệ quả tự nhiên của một cấu trúc nhận thức mới. Giống như khi bạn chuyển từ nhìn thế giới hai chiều sang ba chiều, bạn không cần cố gắng để thấy chiều sâu, não bạn tự thấy.
Có một điểm rất quan trọng, những năng lực này không phải thứ để khoe, không phải dấu hiệu bạn đã đạt tới điều gì đó. Chúng đơn giản là cách não vận hành khi nó không còn bị giới hạn bởi giả định sai rằng thực tại là cố định và bạn là người đứng ngoài.
Lựa chọn cuối, đi tới cùng hay quay lại sự thoải mái cú.
Đến đây không còn thêm một khái niệm mới nào cần được hiểu nữa, cũng không còn một lập lợn nào cần được chứng minh thêm. Những gì cần thấy bạn đã thấy, những gì cần hiểu bạn đã chạm tới. Từ thời điểm này, câu chuyện không còn nằm ở kiến thức, nó nằm ở lựa chọn. Không phải lựa chọn theo nghĩa đạo đức, không phải lựa chọn đúng sai mà là một lựa chọn rất giản dị. Bạn sẽ cho phép quá trình này đi tới cùng hay bạn sẽ tìm cách quay lại sự quen thuộc cũ vì nó dễ chịu hơn.
Không ai có thể chọn thay bạn và cũng không có lựa chọn nào bị phán xếp. Thế giới quan cũ từng giúp bạn sống, học hỏi, trưởng thành. Nó không xấu, nó chỉ không còn đủ cho điều bạn đã thấy. Nếu bạn quay lại với nó, bạn vẫn có thể sống bình thường, vẫn làm việc, vẫn yêu thương, vẫn vận hành cuộc đời như trước.
Nhưng ở đâu đó bên trong sẽ luôn có một lớp nhận biết rất âm thầm rằng bạn đang sống trong một khung hiểu biết không còn hoàn toàn trung thực với trải nghiệm của chính mình. Sự căng thẳng đó rất lạ, không ồn ào nhưng bền bỉ.
💥Phần cuối: Điều quan trọng nhất sau tất cả những gì bạn đang nghe
Nếu bạn đã nghe tới đây, có thể bạn đang tự hỏi một điều rất thực tế. Vậy rốt cuộc mình phải sống thế nào với tất cả những gì vừa nghe?
Câu trả lời có thể khiến bạn bất ngờ vì nó không phức tạp như bạn nghĩ. Bạn không cần phải thay đổi công việc ngay, không cần phải rời bỏ những mối quan hệ đang có, không cần phải trở thành một con người khác, sống khác người xung quanh.
Điều duy nhất thực sự cần thay đổi là cách bạn ở trong những điều đang diễn ra mỗi ngày. Sau khi nhận ra những gì bạn đã nhận ra, điều khiến bạn mệt mỏi không phải vì cuộc sống khó hơn mà vì bạn vẫn đang cố phản ứng theo những thói quen cũ trong khi bên trong bạn đã không còn tin vào chúng nữa. Từ bây giờ, bạn không cần phải ép mình làm đúng. Bạn chỉ cần ngừng làm những điều mà bản thân mình biết là không còn đúng nữa. Khi một tình huống xảy ra, bạn không cần phải hỏi mình nên phản ứng thế nào cho hợp lý, chỉ cần hỏi một câu đơn giản hơn, phản ứng cũ này còn thực sự cần thiết không?
Nếu câu trả lời là không, bạn không cần phải thay thế nó bằng một phản ứng mới nào cao siêu, chỉ cần không làm gì vội. Chính khoảng dừng đó mới là nơi mọi thứ bắt đầu thay đổi. Và khi bạn không còn cố kiểm soát, đời sống xung quanh bạn cũng bắt đầu vận hành theo một trật tự khác.
Những mối quan hệ không còn đồng điệu sẽ tự bộc lộ sự mệt mỏi mà không cần bạn phải quyết định dứt khoát.
Và những điều còn phù hợp, chúng sẽ ở lại một cách tự nhiên, không cần bạn phải cố giữ.
Đây không phải là buông xuôi, cũng không phải là phó mặt. Đây là sống đúng với những gì bạn đã thấy thay vì quay lại sống như thể mình chưa từng thấy gì. Nếu có một điều duy nhất bạn cần nhớ sau video này thì đó là điều này. Bạn không cần phải sửa cuộc sống của mình. Bạn chỉ cần thôi cư xử trái với nhận thức mà mình đang có. Phần còn lại, cuộc sống sẽ tự điều chỉnh theo cách của nó. Nếu nghe tới đây, bạn nhận ra rằng mình đã không còn muốn phản ứng theo cách cũ nữa.
Không phải vì ép buộc mà vì nó không còn phù hợp. Bạn có thể để lại bên dưới video này một câu rất ngắn. Tôi đang ở lại với điều đang diễn ra.
Không phải là một quyết định, chỉ là một khoảnh khắc bạn nhận ra mình không còn muốn quay lại cách sống cũ nữa.
Ánh sáng tâm trí cảm ơn bạn. Nếu bạn đã nghe đến những dòng cuối cùng này bằng cả trái tim mình, mong rằng từ ngày hôm nay bạn sẽ bớt ép bản thân phải sống cho đúng, bớt tự trách mình khi mọi thứ chưa rõ ràng và cho mình thời gian để cuộc sống tự sắp xếp lại theo cách phù hợp hơn với con người bạn bây giờ.
(Truyền Thừa Bí Kíp Thiền Tông – Tuyệt Mật – Đặc Biệt )
Video: Trích đoạn
![]()
Nguồn Thiền Tông
✍️ Mục lục: Sự Hiển Hiện – Manifestation 👉 Xem tiếp
